Tín ngưỡng tôn giáo
Tiếp thu có chọn lọc - “Chìa khóa” hoàn thiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
Trong bối cảnh đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng đa dạng, khung pháp lý vừa cởi mở, minh bạch, vừa phù hợp thực tiễn Việt Nam là nền tảng để củng cố đồng thuận xã hội và phát huy những giá trị tích cực của tôn giáo trong phát triển đất nước.

Không có “mẫu số chung” cho chính sách tôn giáo
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026. Trước khi trình Quốc hội, dự án luật đã được Bộ Dân tộc và Tôn giáo lấy ý kiến rộng rãi các chuyên gia, nhà quản lý, các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, đồng thời có tham khảo, tiếp thu có chọn lọc từ chính sách tôn giáo của nhiều nước trên thế giới.
Trong Báo cáo 3061/BC-BDTTG ngày 15/12/2025, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cho biết, để xây dựng dự án luật sửa đổi, Bộ đã tổ chức nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Qua tham khảo cho thấy, mỗi quốc gia đều có mô hình quản trị về tín ngưỡng, tôn giáo.
Tại Đức, pháp luật quy định tự do tôn giáo của cá nhân và tự do tôn giáo của tập thể, trong đó quyền tự do tôn giáo tập thể chỉ áp dụng đối với các cộng đồng tôn giáo “có hiến pháp và số lượng thành viên duy trì ở mức liên tục”. Còn ở Pháp là mô hình điển hình về quản lý tôn giáo trên cơ sở nguyên tắc thế tục, bảo đảm tự do tín ngưỡng, bình đẳng giữa các tôn giáo và vai trò trung lập của Nhà nước.
Italia là quốc gia có truyền thống gắn bó sâu sắc với Công giáo, nơi đặt Tòa Thánh Vatican. Do đó, chính sách của Chính phủ Italia đối với tôn giáo, chủ yếu là đối với Giáo hội Công giáo, nhưng Hiến pháp năm 1948 của Italia xác định bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bình đẳng giữa các tôn giáo, không có tôn giáo quốc gia.
Không có “khoảng trống quản lý” trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo
Dù cách tiếp cận khác nhau nhưng hầu hết các quốc gia đều không coi tự do tín ngưỡng, tôn giáo là “khoảng trống quản lý” mà luôn gắn với khuôn khổ pháp luật. Trong chính sách tôn giáo của các nước, điều cốt lõi không nằm ở việc “siết” hay “nới” quản lý, mà ở việc xây dựng được một khung pháp lý minh bạch, ổn định, khả thi và phù hợp thực tiễn.
Ở Vương quốc Anh, hoạt động tôn giáo được quản lý bằng các quy định pháp luật cụ thể, từ đăng ký sinh hoạt, địa điểm hoạt động đến chế tài xử lý vi phạm; còn Nga và Trung Quốc nhấn mạnh yêu cầu ngăn ngừa việc lợi dụng tôn giáo gây ảnh hưởng đến an ninh, chính trị và trật tự xã hội… Những kinh nghiệm này cho thấy, quản lý hiệu quả không nằm ở biện pháp hành chính đơn thuần mà ở hệ thống pháp luật đủ rõ ràng để vừa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo vừa giữ vững kỷ cương.
Ở Việt Nam, từ năm 2018, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, vừa bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, vừa nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, thực tiễn hiện đặt ra nhiều vấn đề mới cần tiếp tục hoàn thiện, nhất là trong bối cảnh đời sống tôn giáo ngày càng đa dạng, nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng ngày càng tăng và xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển xã hội
Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia cho thấy, tôn giáo không chỉ là nhu cầu tinh thần mà còn có thể đóng góp tích cực trong phát triển xã hội. Một số quốc gia đã có cơ chế pháp lý rõ ràng để các tổ chức tôn giáo đồng hành cùng Nhà nước trong cung cấp dịch vụ xã hội, góp phần giảm áp lực cho ngân sách công và tăng tính nhân văn trong chính sách an sinh.
Đơn cử, Đức xây dựng mô hình phối hợp giữa Nhà nước và tôn giáo nhằm phát huy nguồn lực xã hội trong những lĩnh vực công mà Nhà nước khó bao quát toàn diện.
Tại Việt Nam, nhiều tổ chức tôn giáo thời gian qua đã tham gia tích cực vào các hoạt động nhân đạo, từ thiện, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, hỗ trợ người nghèo, cứu trợ thiên tai… Đây là nguồn lực xã hội cần tiếp tục được tạo điều kiện phát huy thông qua hành lang pháp lý phù hợp, công khai và minh bạch.
Trong bối cảnh đời sống tín ngưỡng, tôn giáo tiếp tục có nhiều biến đổi, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Tiếp thu có chọn lọc vì thế không chỉ là phương pháp xây dựng luật, mà còn phản ánh cách tiếp cận của Việt Nam trong quản trị xã hội hiện đại: tôn trọng khác biệt, bảo đảm quyền con người nhưng đồng thời đặt trong khuôn khổ pháp luật, lợi ích quốc gia và sự ổn định của đất nước.


