Di sản và lễ hội
"Chạy đua" cùng thời gian để giữ gìn văn hóa dân gian xứ Lạng
Để đánh thức những “kho báu” văn hóa dân gian, Lạng Sơn đã và đang đẩy mạnh sưu tầm, số hóa tư liệu, đưa di sản vào trường học và cộng đồng.

Kho tàng văn hóa dân gian phong phú
Ngày 12/6, Hội Văn học Nghệ thuật và Nhà báo tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội thảo Nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị văn học dân gian các DTTS trên địa bàn tỉnh thông qua tư liệu Hán Nôm, văn bản chép tay, dân ca và nghi lễ cộng đồng.
Lạng Sơn là vùng đất hội tụ nhiều cộng đồng DTTS, như: Tày, Nùng, Dao, Mông, Sán Chỉ, Cao Lan… Qua hàng trăm năm hình thành và phát triển, mỗi cộng đồng đã kiến tạo nên kho tàng văn học dân gian đặc sắc, với truyện kể, thơ ca, tục ngữ, dân ca, nghi lễ và nhiều loại hình diễn xướng độc đáo.
Không gian văn hóa dân gian nơi đây vẫn đang được duy trì bằng đời sống cộng đồng sôi động. Toàn tỉnh hiện có gần 1.000 đội văn nghệ quần chúng, hơn 1.100 câu lạc bộ sở thích với khoảng 35.000 hội viên tham gia sinh hoạt thường xuyên.
Nhiều nghệ nhân dân gian vẫn miệt mài trao truyền các loại hình Then, Sli, Lượn, Cỏ lẩu, Quan làng, Páo dung, chế tác đàn tính hay nghệ thuật múa sư tử… trở thành những “người giữ lửa” cho di sản.

Theo ông Nguyễn Phúc Hà - Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật và Nhà báo tỉnh Lạng Sơn, việc bảo tồn văn học dân gian không chỉ là gìn giữ những giá trị cũ, mà còn là hành động để di sản tiếp tục tồn tại trong tương lai.
Nhận thức rõ điều đó, tỉnh Lạng Sơn đã ban hành Kế hoạch số 84 về bảo tồn và phát huy giá trị văn học dân gian các DTTS giai đoạn 2023 - 2030. Trên cơ sở đó, Hội Văn học Nghệ thuật và Nhà báo tỉnh triển khai nhiều hoạt động nghiên cứu, sưu tầm và xuất bản các công trình như: Truyện cổ dân gian xứ Lạng, Những tích truyện cổ trong lẩu then xứ Lạng, Dân ca nghi lễ của người Tày…
Bước sang năm 2026, trọng tâm được chuyển sâu hơn vào phần “lõi” của di sản: Giải mã tư liệu Hán Nôm, văn bản chép tay, nghiên cứu dân ca cổ và các nghi lễ còn tồn tại trong cộng đồng.
Theo ông Nguyễn Phúc Hà, những lời Sli cổ trong đám cưới, các câu ca dao, tục ngữ, lời diễn xướng, hay những bản chép tay lưu truyền qua nhiều thế hệ đều là những “báu vật” mà cha ông để lại.
Nỗi lo mai một di sản
Tuy nhiên, nhiều đại biểu cho rằng, hiện nay, ngày càng ít người trẻ sử dụng tiếng mẹ đẻ, hát dân ca, hay tham gia các hoạt động văn hóa truyền thống. Trong khi đó, công nghệ số, mạng xã hội và các sản phẩm văn hóa hiện đại đang làm thay đổi mạnh mẽ thói quen tiếp nhận văn hóa của giới trẻ.

Ts. Hoàng Văn Páo - Chủ tịch Hội Di sản Văn hóa tỉnh Lạng Sơn, cho biết, dù công tác nghiên cứu, sưu tầm đã đạt nhiều kết quả, nhưng việc tư liệu hóa vẫn chưa đồng bộ. Nhiều giá trị văn học dân gian vẫn tồn tại dưới hình thức truyền miệng, chưa được ghi chép hoặc số hóa đầy đủ.
Điều đáng lo hơn là nhiều nghệ nhân cao tuổi - những “báu vật nhân văn sống” - đang dần vắng bóng, trong khi lực lượng kế cận còn mỏng. Không ít loại hình diễn xướng dân gian đã thu hẹp không gian tồn tại hoặc đứng trước nguy cơ biến mất.
Theo Nghệ sĩ Ưu tú Phùng Văn Muộn - Chủ tịch Hội Bảo tồn dân ca tỉnh Lạng Sơn, một nguyên nhân quan trọng là một bộ phận giới trẻ chưa nhận thức đầy đủ giá trị của di sản truyền thống. Việc tiếng mẹ đẻ ít được sử dụng trong gia đình cũng làm gia tăng nguy cơ đứt gãy truyền nối văn hóa.
Để di sản “sống” trong đời sống hiện đại
Các chuyên gia cho rằng, cần “chạy đua với thời gian” để sưu tầm, ghi chép và số hóa tư liệu; xây dựng ngân hàng dữ liệu số bằng hình thức ghi âm, ghi hình các làn điệu dân ca, nghi lễ và tri thức dân gian do nghệ nhân nắm giữ.

Song song với đó, bảo tồn phải gắn với cộng đồng - nơi văn hóa được sinh ra và nuôi dưỡng. Các lễ hội truyền thống, chợ phiên, nhà văn hóa thôn bản cần tiếp tục trở thành không gian thực hành văn hóa.
Một hướng đi được nhiều đại biểu đồng thuận, là đưa ngôn ngữ dân tộc, dân ca và văn học dân gian vào trường học thông qua giáo dục địa phương, hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ và các cuộc thi trải nghiệm.
Ngoài ra, việc tận dụng nền tảng số như Video ngắn, phim tư liệu, sản phẩm truyền thông sáng tạo hay gắn văn hóa dân gian với du lịch cộng đồng cũng được xem là cách để di sản tiếp cận thế hệ trẻ theo ngôn ngữ của thời đại.

“Bảo tồn văn hóa không phải đóng khung di sản trong bảo tàng, mà phải làm cho di sản sống được trong đời sống đương đại”, Ts. Hoàng Văn Páo nhấn mạnh.
Từ những trang sách cổ đến câu hát dân gian và nghi lễ truyền thống, hành trình đánh thức các “kho báu” văn học dân gian xứ Lạng đang tiếp tục được nối dài. Đó không chỉ là câu chuyện lưu giữ ký ức, mà còn là cách để bản sắc văn hóa các dân tộc tiếp tục hiện diện, lan tỏa trong đời sống hằng ngày.

