Công tác Dân tộc

Công tác Dân tộc

Gỡ những “nút thắt” dân sinh thiết yếu: Mệnh lệnh cấp bách ở vùng khó

Sỹ Hào 14/06/2026 08:38

Kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, một bộ phận người dân thiếu đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, việc quy hoạch, sắp xếp ổn định dân cư chưa được giải quyết dứt điểm... Tháo gỡ những “nút thắt” này là yêu cầu cấp bách để phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS và miền núi.

a2t888.jpg
Công tác bố trí, sắp xếp, ổn định dân cư, nhất là ở những vùng có nguy cơ thiên tai cao vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. (Trong ảnh: Khu tái định cư thôn K'Nớ 5, xã Đam Rông 4, tỉnh Lâm Đồng đang đối mặt tình trạng sạt lở nghiêm trọng)

Hạ tầng dân sinh thiết yếu vẫn là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”

Từ các chương trình, chính sách dân tộc được ban hành và triển khai hiệu quả, diện mạo vùng đồng bào DTTS và miền núi đã đổi thay rõ nét, nhất là hạ tầng phục vụ sản xuất và dân sinh. Điện, đường, trường, trạm được đầu tư đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện rõ rệt đời sống đồng bào DTTS.

Tuy nhiên, nhìn sâu vào thực tế, khoảng cách phát triển giữa miền núi và miền xuôi vẫn còn rất lớn. Khoảng cách ấy đôi khi được đo bằng những điều rất căn bản: Một con đường chưa được bê tông hóa, một cây cầu dân sinh tạm bợ, một trạm y tế thiếu thiết bị, một mái nhà chưa đủ che mưa nắng hay một bản làng chưa có điện ổn định…

Số liệu trong Báo cáo 812/BC-BDTTG ngày 31/3/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo tổng kết thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2021-2025 phần nào phản ánh “điểm nghẽn” hạ tầng thiết yếu này. Toàn vùng còn 2 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa; 8,4% trong tổng số 33.764 thôn chưa có đường ô tô; 1,9% trong tổng số 1.514 trạm y tế xã còn tạm bợ…

Đây đều là những con số đáng lưu tâm, bởi đó chính là “điểm nghẽn” phát triển ở nhiều địa bàn. Đơn cử như xã Đồng Lương của tỉnh Thanh Hóa, toàn xã có 35,21 km đường thôn nhưng tỷ lệ cứng hóa mới đạt 66%, còn lại là đường đất. Dù là xã vùng Trung du, có địa hình đồi thấp, khí hậu ôn hòa, thích hợp với nhiều cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, nhưng thu nhập bình quân hiện vẫn chưa đạt 40 triệu đồng/người/năm; xã cũng chưa xây dựng lộ trình “về đích” nông thôn mới.

Giai đoạn 2021 - 2025, vốn Chương trình MTQG 1719 đã đầu tư 6.018 công trình giao thông, cứng hóa 8.673 km đường; xây dựng 442 công trình điện; 1.787 công trình nước sinh hoạt cộng đồng; cải tạo, xây mới hàng trăm công trình y tế, giáo dục; 986 công trình thủy lợi nhỏ; 281 chợ; đồng thời duy tu, bảo dưỡng 5.484 công trình hạ tầng…

“An cư” vẫn là bài toán chưa có lời giải trọn vẹn

Ở nhiều địa bàn vùng sâu, vùng xa, nhiều vấn đề cấp bách trong đời sống dân sinh đã được quan tâm giải quyết nhưng hiện vẫn xử lý chưa triệt để. Trong đó dai dẳng nhất là bố trí, sắp xếp, ổn định dân cư.

Giai đoạn 2021 - 2025, vùng đồng bào DTTS và miền núi có hơn 81.500 hộ cần được bố trí, nhưng đến hết năm 2025 mới thực hiện được khoảng 34,3 nghìn hộ. Đồng nghĩa, hàng chục nghìn hộ dân miền núi vẫn đang sinh sống ở những khu vực hẻo lánh, có nguy cơ xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở.

Trong khi đó, việc bố trí ổn định dân cư không đơn thuần là di dời người dân đến nơi ở mới. Điều quan trọng hơn là phải bảo đảm sinh kế lâu dài, có điện, đường, trường học, trạm y tế và điều kiện sản xuất phù hợp, tránh lặp lại vòng luẩn quẩn của nghèo đói, thiếu việc làm và di cư tự do.

Điện Biên hiện là một trong những địa phương gặp nhiều thách thức trong bố trí, sắp xếp ổn định dân cư. Toàn tỉnh còn khoảng 790 hộ dân sinh sống trong khu vực có nguy cơ cao cần được di dời khẩn cấp, nhưng việc thực hiện gặp khó do quỹ đất tái định cư hạn hẹp, nguồn lực đầu tư hạ tầng còn thiếu.

Điều ông Lò Văn Cương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên trăn trở không chỉ có vậy, bởi việc di dời người dân khỏi vùng thiên tai không phải nhiệm vụ đơn giản. Ngoài khó khăn về địa hình, quỹ đất, còn có thách thức về nguồn vốn và sinh kế lâu dài cho người dân sau tái định cư.

Theo tính toán sơ bộ, để bố trí ổn định đời sống cho 790 hộ dân cần di dời khẩn cấp, tỉnh Điện Biên cần khoảng 775 tỷ đồng. Đây là con số rất lớn đối với một tỉnh miền núi nghèo, nên Điện Biên đặt mục tiêu đến năm 2050 mới hoàn thành di dời dân tại các vùng nguy hiểm đến nơi an toàn - mục tiêu khá dài hạn đối với một vấn đề cấp bách.

a1t888.jpg
Cơ sở hạ tầng cần đi trước để mở lối giảm nghèo ở những địa bàn đặc biệt khó khăn. (Trong ảnh: Điểm trường Bó Khiếu Cao Tân ở xã Cao Minh, tỉnh Thái Nguyên. Nguồn ảnh: UBND xã Cao Minh)

Khoảng cách thu nhập bắt đầu từ những thiếu hụt căn bản

Theo Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến, trọng tâm công tác dân tộc hiện nay là chuyển từ “giải quyết khó khăn” sang “khai mở tiềm năng”. Trong đó, con người là chủ thể, hạ tầng là nền tảng, giáo dục, khoa học - công nghệ và chuyển đổi số là động lực.

Nhưng cũng cần thấy rằng, hiện vẫn còn một bộ phận người dân vùng đồng bào DTTS thiếu “điều kiện cần” để phát triển chủ động và bền vững. Từ đầu nhiệm kỳ 2021 - 2025, triển khai Chương trình MTQG 1719, Chính phủ đặt mục tiêu giải quyết một số nhu cầu dân sinh cấp bách cho đồng bào DTTS. Trong đó, phấn đấu hỗ trợ đất ở cho hơn 17.400 hộ, đất sản xuất cho hơn 47.200 hộ, nhà ở cho hơn 18.300 hộ…

Tuy nhiên, cũng như mục tiêu bố trí, sắp xếp, ổn định dân cư, thiếu quỹ đất là rào cản thực tế khiến việc giải quyết các nhu cầu thiết yếu này chưa triệt để. Đến cuối năm 2025, vốn Chương trình MTQG 1719 mới có thể hỗ trợ 10.549 hộ về đất ở, 13.387 hộ về đất sản xuất; những hộ có nhu cầu nhưng địa phương không còn quỹ đất phải chuyển sang hỗ trợ chuyển đổi nghề.

Thực tế này đã được Bộ Dân tộc và Tôn giáo đánh giá khách quan trong Báo cáo 812/BC-BDTTG tổng kết thực hiện chính sách dân tộc giai đoạn 2021-2025. Theo Bộ Dân tộc và Tôn giáo, mục tiêu giải quyết tình trạng thiếu đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt, sắp xếp ổn định dân cư vẫn chưa đạt, nhất là tại các địa bàn đặc biệt khó khăn.

Đây là nguyên nhân chủ yếu khiến tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào DTTS còn cao, thu nhập bình quân đầu người thấp hơn nhiều so với mặt bằng chung cả nước. Đến cuối năm 2025, trong khi thu nhập bình quân chung cả nước đạt khoảng 5.026 USD (tương đương hơn 132 triệu đồng/người/năm), tỷ lệ hộ nghèo còn 1,3%, thì thu nhập bình quân của người DTTS mới đạt khoảng 45 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo còn 9,71%.

Đột phá về thể chế không chỉ là sửa một vài chính sách, mà là tạo dựng một khung phát triển đủ mạnh để vùng đồng bào dân tộc thiểu số bứt phá, vươn lên cùng cả nước”.

Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến

Không để chính sách đi chậm hơn cuộc sống

Những “nút thắt” dân sinh thiết yếu ở vùng đồng bào DTTS và miền núi đã được chỉ rõ trong Chỉ thị 19/CT-TTg ngày 12/5/2026 về đẩy mạnh thực hiện Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong Chỉ thị, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung, chủ động lồng ghép nguồn lực để giải quyết những nhu cầu dân sinh cấp bách, nhất là tại địa bàn đặc biệt khó khăn, vùng biên giới.

Điểm đáng chú ý trong chỉ đạo lần này là yêu cầu nâng cao trách nhiệm phối hợp liên ngành, thay vì để chính sách bị chia cắt theo từng lĩnh vực riêng lẻ. Từ bố trí ổn định dân cư, giải quyết đất ở, đất sản xuất, đầu tư giao thông, điện, nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế đến phát triển sinh kế, bảo vệ rừng… đều đòi hỏi sự “bắt tay” đồng bộ giữa các bộ, ngành và địa phương.

Thực tế nhiều năm qua cho thấy, nếu chỉ đầu tư riêng lẻ từng hạng mục, hiệu quả sẽ khó bền vững. Có nơi có đường nhưng thiếu sinh kế, nơi có nhà tái định cư nhưng thiếu đất sản xuất, có công trình nước sinh hoạt nhưng thiếu kinh phí vận hành; có trạm y tế nhưng thiếu nhân lực, thiết bị…

Bởi vậy, yêu cầu hiện nay không chỉ là tăng nguồn lực đầu tư mà còn là thay đổi cách tiếp cận trong tổ chức thực hiện chính sách. Các bộ, ngành phải thực sự vào cuộc với tinh thần chia sẻ trách nhiệm, phối hợp tháo gỡ những “nút thắt” kéo dài nhiều năm. Chỉ khi những nhu cầu thiết yếu nhất được giải quyết đồng bộ thì mới tạo được nền tảng để thu hẹp khoảng cách phát triển, giảm nghèo bền vững cho vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Sỹ Hào