Sắc màu 54
Bảo tồn hay “sân khấu hóa” văn hóa dân tộc thiểu số?
Một điệu múa biểu diễn theo giờ, một lễ hội rút gọn phục vụ cho tour du lịch có thể đưa di sản đến gần công chúng, nhưng cũng có thể tách văn hóa khỏi chủ thể. Ranh giới giữa bảo tồn và “sân khấu hóa” nằm ở quyền quyết định của cộng đồng và sức sống của di sản sau khi tắt ánh đèn.

Khi văn hóa, di sản bước ra thị trường
Việt Nam đã kiểm kê 62.283 di sản văn hóa phi vật thể, trong đó 571 di sản được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Một phần quan trọng thuộc về các dân tộc thiểu số, từ Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, thực hành Then, nghệ thuật Xòe Thái đến nghề dệt, lễ hội, tiếng nói và chữ viết.
Theo Báo cáo số 812/BC-BDTTG ngày 31/3/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, giai đoạn 2021 - 2025, Chương trình mục tiêu quốc gia 1719 đã hỗ trợ xây dựng 69 điểm du lịch truyền thống, đầu tư 3.220 nhà văn hóa - khu thể thao, bảo tồn 124 lễ hội, hỗ trợ 695 câu lạc bộ văn hóa dân gian và 5.760 đội văn nghệ truyền thống. Hơn 16.350 lượt người được bồi dưỡng chuyên môn, truyền dạy văn hóa phi vật thể.
Văn hóa đang được nhìn nhận không chỉ là ký ức mà còn là nguồn lực phát triển. Du lịch tạo thị trường cho thổ cẩm, ẩm thực, nghệ thuật trình diễn; nghệ nhân có nơi thực hành, lớp trẻ có động lực học nghề. Nếu người giữ di sản không sống được bằng tri thức của mình, bảo tồn khó bền vững.
Lô Lô Chải, xã Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang, là một ví dụ. Thôn có 120 hộ, chủ yếu là người Lô Lô; 56 hộ làm du lịch cộng đồng. Cuối năm 2025, thôn còn 4 hộ nghèo và 4 hộ cận nghèo; các hộ làm du lịch có thu nhập bình quân từ 16 đến 20 triệu đồng mỗi tháng. Nhà trình tường, ẩm thực và nghề thủ công truyền thống tạo việc làm ngay tại bản.
Trên Báo điện tử Chính phủ, ông Ma Doãn Khánh, Phó Chủ tịch UBND xã Lũng Cú, gọi bản sắc là “tài sản bảo đảm” để người dân Lô Lô Chải khởi nghiệp. Khi lợi ích trở lại với người dân, cộng đồng có thêm lý do bảo vệ kiến trúc, nghề thủ công và tập quán của mình.
Tuy nhiên, không phải hoạt động “phục dựng” nào cũng là bảo tồn. Ở một số điểm du lịch, lễ hội Gầu Tào của người Mông hoặc nghi lễ nhảy lửa của người Pà Thẻn, người Dao bị cắt gọt, thay đổi thời gian, chuyển khỏi không gian hành lễ để phù hợp với lịch của đoàn khách. Phần tín ngưỡng và mối liên hệ cộng đồng bị lược bỏ; thứ còn lại dễ trở thành tiết mục gây tò mò.
Với thổ cẩm, sức ép giá rẻ dẫn đến việc giản lược kỹ thuật, dùng vải công nghiệp, họa tiết in sẵn, thậm chí nhập hàng nơi khác rồi gắn nhãn sản phẩm địa phương. Du khách vẫn thấy màu sắc “dân tộc”, nhưng người dệt, kỹ năng và câu chuyện đằng sau hoa văn đã biến mất.
Đó là “sân khấu hóa” theo nghĩa đáng lo: giữ lại hình thức để trưng bày nhưng đẩy chức năng xã hội và người thực hành ra ngoài. Trang phục chỉ được mặc khi đón khách; cồng chiêng chỉ vang lên theo hợp đồng; lễ hội có thể diễn ra bất kỳ mùa nào. Người dân dần trở thành diễn viên trong kịch bản do doanh nghiệp hoặc nhà tổ chức viết sẵn. Di sản xuất hiện nhiều hơn nhưng sống ít hơn trong cộng đồng.
Nguy cơ này được ông Nguyễn Hoàng Hành, Phó Vụ trưởng Vụ Tuyên truyền công tác dân tộc và tôn giáo (Bộ Dân tộc và Tôn giáo), chỉ ra ở Hội nghị “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Khmer” diễn ra ngày 22/5/2026 tại TP. Cần Thơ: một số hoạt động bảo tồn còn nặng tính hành chính, phong trào; giá trị văn hóa có nguy cơ bị thương mại hóa, tách khỏi không gian nguyên gốc.
Theo ông Nguyễn Hoàng Hành, cần chuyển từ “bảo tồn văn hóa thuần túy” sang “quản trị phát triển dựa trên giá trị văn hóa”, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, còn cộng đồng phải thực sự là chủ thể trung tâm.

Trình diễn không phải “kẻ thù”
Không nên đồng nhất mọi sự dàn dựng với làm giả văn hóa. Một nghi lễ kéo dài nhiều giờ khó có thể đưa nguyên vẹn lên sân khấu; nghề thủ công muốn trở thành sinh kế cũng phải tạo ra sản phẩm phù hợp với đời sống mới. Chọn lọc và sáng tạo là quá trình tự nhiên, bởi di sản văn hóa phi vật thể luôn được các thế hệ tái tạo.
Điểm khác biệt là cộng đồng có quyền nói “được”, “không” và “đến đâu” hay không. Một trích đoạn nhảy lửa được giới thiệu rõ là màn trình diễn minh họa, do nghệ nhân lựa chọn nội dung, có thể giúp công chúng hiểu thêm về di sản. Ngược lại, tái hiện nghi thức thiêng sai thời điểm, bỏ qua những điều kiêng kỵ nhưng vẫn quảng cáo là “nguyên bản” sẽ làm méo mó nhận thức của du khách.
Nghệ nhân Đinh Văn Đem, người Ba Na, từng chia sẻ rằng địa phương còn ít người chơi đàn T’rưng nên ông cố gắng gìn giữ và truyền lại cho giới trẻ. Điều quan trọng không phải nhạc cụ có được đưa lên sân khấu hay không, mà sau buổi biểu diễn còn bao nhiêu người biết chơi và hiểu vị trí của đàn T’rưng trong đời sống người Ba Na.
Sân khấu chỉ có ý nghĩa bảo tồn khi dẫn người trẻ trở lại với thực hành văn hóa. Một đội cồng chiêng biểu diễn cho khách nhưng vẫn duy trì sinh hoạt trong làng, mở lớp truyền dạy và sử dụng cồng chiêng đúng dịp lễ thì hoạt động du lịch đang tiếp sức cho di sản. Nếu đội diễn chỉ học vài động tác, mặc trang phục may công nghiệp và không còn liên hệ với nghệ nhân, đó chỉ là sản phẩm mô phỏng.
Trao quyền thật cho cộng đồng
Luật Di sản văn hóa năm 2024 đặt ra nguyên tắc tôn trọng quyền của chủ thể di sản và nghệ nhân trong việc quyết định yếu tố cần bảo vệ, hình thức và mức độ phát huy di sản. Đây là cơ sở để chuyển từ cách làm “bảo tồn cho đồng bào” sang “đồng bào chủ trì bảo tồn”.
Trước khi đưa nghi lễ vào sản phẩm du lịch, cần có sự đồng thuận của cộng đồng và nghệ nhân; phân định phần thiêng không trình diễn, phần có thể giới thiệu và phần được sáng tạo. Kịch bản phải ghi rõ đâu là thực hành gốc, đâu là trích đoạn và đâu là sản phẩm đương đại lấy cảm hứng từ truyền thống.
Nguồn thu cũng phải minh bạch: nghệ nhân được trả công, cộng đồng nhận một phần doanh thu, thanh niên được học nghề, sản phẩm tại chỗ được ưu tiên. Hiệu quả không chỉ đo bằng lượt khách hay số buổi biểu diễn mà bằng số người trẻ theo nghề, số nghệ nhân có thu nhập và tần suất di sản được thực hành trong đời sống.
Bảo tồn không có nghĩa đóng băng văn hóa trong quá khứ; phát huy cũng không đồng nghĩa biến mọi thứ thành hàng hóa. Một di sản có thể bước lên sân khấu, đi vào homestay hay trở thành sản phẩm sáng tạo mà vẫn giữ được cốt lõi, nếu cộng đồng còn nắm quyền kể câu chuyện của mình.
Câu hỏi quan trọng nhất vì thế không phải “có sân khấu hóa hay không”, mà là sau mỗi cuộc trình diễn, văn hóa có tiếp tục sống trong bản làng và nuôi dưỡng chính những người đã tạo ra nó hay không.
Nghị định số 269/2026/NĐ-CP của Chính phủ tiếp tục yêu cầu bảo đảm cộng đồng được thụ hưởng từ việc khai thác văn hóa truyền thống; khuyến khích tổ, nhóm, hợp tác xã và cộng đồng tham gia quản lý du lịch. Chủ thể văn hóa nòng cốt trực tiếp thực hành, trao truyền được hỗ trợ 400.000 đồng/người/buổi; chủ thể kế cận được hỗ trợ 300.000 đồng/người/buổi, tối đa 20 buổi cho mỗi chương trình trong phạm vi dự toán được giao.

