Bản làng hôm nay
Giữ đất, giữ rừng, bảo đảm sinh kế cho đồng bào
Đất là tư liệu sản xuất, rừng là không gian sinh tồn của nhiều cộng đồng DTTS. Để người dân thật sự trở thành chủ thể giữ rừng, chính sách phải bảo đảm quyền sử dụng đất ổn định, nguồn thu đủ sống và những sinh kế không làm tổn hại tài nguyên.
Đầu tháng 7/2026, nhiều trạm thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Quảng Ninh, tỉnh Quảng Trị, trở nên vắng lặng. Do thiếu kinh phí, 58 lao động người dân tộc thiểu số (DTTS) phải tạm dừng công việc bảo vệ hơn 5.800ha rừng. Với họ, tuần rừng, giữ rừng cũng là nguồn thu nhập chính.
Anh Hồ San, người Bru Vân Kiều ở bản Xuân Tiến, xã Trường Sơn, từng ổn định cuộc sống nhờ công việc này. Khi hợp đồng bị gián đoạn, anh chưa biết sẽ làm gì để có thu nhập. Câu chuyện đặt ra vấn đề lớn: Rừng khó được bảo vệ bền vững nếu người giữ rừng vẫn sống bấp bênh.

Có rừng nhưng vẫn thiếu đất sản xuất
Theo Quyết định số 1106/QĐ-BNNMT của Bộ Nông Nghiệp và Môi trường về hiện trạng rừng toàn quốc năm 2025, Việt Nam có 14.971.553ha rừng, gồm hơn 10,07 triệu ha rừng tự nhiên và gần 4,9 triệu ha rừng trồng; tỷ lệ che phủ đạt 42,03%.
So với năm 2024, tổng diện tích rừng tăng 97.251ha, nhưng rừng tự nhiên giảm 54.586ha. Sự dịch chuyển này cho thấy tăng diện tích chưa đồng nghĩa với chất lượng và giá trị sinh thái của rừng được bảo đảm.
Phần lớn diện tích rừng tập trung ở miền núi, nhưng sống gần rừng không có nghĩa người dân đương nhiên có đất sản xuất hoặc được hưởng lợi tương xứng. Vướng mắc về quy hoạch, ranh giới đất lâm nghiệp, quỹ đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn kéo dài.
Tháng 7/2026, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội ghi nhận xã Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, có 475 hộ cần hỗ trợ đất, gồm 76 hộ cần đất ở và 399 hộ cần đất sản xuất. Ngày 25/6, xã giao đất ở lần đầu cho 15 hộ nghèo, cận nghèo người DTTS. Khoảng cách này cho thấy giải quyết thiếu đất không thể dừng ở lập danh sách.
Hay như trước đó, vào tháng 6/2026, Gia Lai cũng ban hành chính sách cho phép hộ nghèo, cận nghèo người DTTS thiếu đất sản xuất được xem xét giao thêm đất nông nghiệp trong hạn mức. Nếu hết quỹ đất, người dân được ưu tiên nhận khoán đất do Nhà nước quản lý hoặc đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường.
Nhưng đất chỉ trở thành tư liệu sản xuất khi quyền sử dụng rõ ràng và có nước, vốn, kỹ thuật, đầu ra. Giao đất xa khu dân cư, bạc màu hoặc thiếu đường sản xuất chưa thể tạo sinh kế. Nơi không còn quỹ đất, hỗ trợ chuyển nghề phải gắn với việc làm thực tế.
Chính sách đất đai vì thế cần được thực hiện theo từng địa bàn. Những diện tích nông, lâm trường sử dụng kém hiệu quả phải được rà soát, đo đạc, xác định ranh giới và có phương án giao, cho thuê hoặc giao khoán phù hợp. Đồng thời, cần ngăn tình trạng đất vừa được hỗ trợ lại bị chuyển nhượng, dẫn đến tái thiếu đất.

Ảnh: Trang thông tin xã Tùng Vài, tỉnh Tuyên Quang
Người giữ rừng phải sống được từ rừng
Khi quyền lợi gắn với trách nhiệm, cộng đồng có thể trở thành lực lượng bảo vệ rừng hiệu quả. Tại xã Đặng Thùy Trâm, tỉnh Quảng Ngãi, anh Phạm Văn Hái cùng 36 thành viên nhận bảo vệ hơn 620ha rừng phòng hộ. Ngoài tiền khoán, người dân còn khai thác hợp lý mây, mật ong và dược liệu. Có ngày anh Hái thu từ 300.000 đồng đến một triệu đồng từ cây mây.
Cũng tại Quảng Ngãi, gia đình chị Đinh Thị Hiền ở thôn Gò Nghênh dùng khoản vay 50 triệu đồng để trồng keo, nuôi ong và tham gia nhận khoán bảo vệ rừng. Nguồn thu kết hợp giúp hộ nghèo trước đây có điều kiện xây nhà mới. Tiền khoán chỉ phát huy tốt khi đi cùng tín dụng và sinh kế dưới tán rừng.
Năm 2025, xã biên giới Mù Cả, tỉnh Lai Châu, chi hơn 13,3 tỷ đồng dịch vụ môi trường rừng cho 443 hộ thuộc năm cộng đồng bản. Nguồn tiền vừa cải thiện thu nhập, vừa xác lập mối quan hệ lợi ích giữa người dân với diện tích rừng được giao bảo vệ.
Hay tại Thanh Hóa cũng có gần 400.000ha rừng tham gia cung ứng dịch vụ môi trường. Giai đoạn 2020 - 2025, Quỹ Bảo vệ, phát triển rừng và Phòng, chống thiên tai tỉnh thu 169,7 tỷ đồng, chi trả khoảng 30 - 35 tỷ đồng mỗi năm. Bản Ken, xã Nam Xuân, có hơn 1.200ha rừng được chi trả dịch vụ môi trường; cộng đồng thành lập nhóm tuần tra, phòng cháy, chữa cháy rừng.
Nhưng trường hợp 58 lao động ở Quảng Trị lại cho thấy một mắt xích dễ đứt gãy. Đầu năm 2026, đơn vị quản lý ký hợp đồng với 58 hộ để bảo vệ hơn 5.800ha rừng, tổng nhu cầu hơn 7,1 tỷ đồng. Nguồn được phân bổ chỉ hơn 2,6 tỷ đồng, còn thiếu hơn 4,5 tỷ đồng, khiến lực lượng phải dừng việc từ ngày 1/7. Trong khi đó, Ban Quản lý rừng phòng hộ Quảng Ninh đang chịu trách nhiệm trên 52.000ha rừng và đất lâm nghiệp.
Phó Giám đốc phụ trách đơn vị Đỗ Minh Cừ đề nghị sớm bố trí kinh phí để giữ chân lao động bản địa, những người thông thạo địa hình và nói được tiếng dân tộc. Nếu họ đi làm xa, mạng lưới “tai mắt” bảo vệ rừng cũng suy yếu. Kinh phí khoán vì thế phải đủ, liên tục và thanh toán đúng hạn.

Mở rộng giá trị rừng, bảo đảm quyền hưởng lợi
Nguồn lực cho người giữ rừng đang có thêm những cánh cửa mới. Tại Quảng Trị, giai đoạn 2023-2025, tỉnh được phân bổ hơn 364 tỷ đồng từ Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ. Đến tháng 2/2026, hơn 347 tỷ đồng đã được chi cho các chủ rừng, đạt hơn 95% kế hoạch. Hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng miền núi là những nhóm được hưởng lợi trực tiếp.
Tháng 3/2026, Quỹ Khí hậu Xanh phê duyệt gần 71,96 triệu USD, tương đương khoảng 1.900 tỷ đồng, cho dự án chi trả dựa trên kết quả REDD+ tại sáu tỉnh miền núi phía bắc: Phú Thọ, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai và Tuyên Quang. Dự án kéo dài sáu năm, hướng tới giảm mất rừng, tăng trữ lượng carbon và hỗ trợ khoán bảo vệ rừng, nông-lâm kết hợp, sinh kế dưới tán rừng.
Những dòng tài chính xanh đòi hỏi cơ chế phân chia minh bạch. Cộng đồng cần biết diện tích tạo ra tín chỉ, số tiền được hưởng, thời điểm chi trả và có quyền giám sát. Nếu lợi ích dừng ở khâu trung gian, động lực giữ rừng khó bền vững.
Sinh kế từ rừng cần được mở rộng theo hướng đa giá trị: dược liệu, lâm sản ngoài gỗ, nuôi ong, du lịch sinh thái, rừng gỗ lớn và chứng chỉ bền vững. Đến tháng 6/2026, Thanh Hóa có 48.479ha rừng đạt chứng chỉ FSC, với 12.405 hộ và nhóm hộ tham gia; hình thành 14 chuỗi liên kết với doanh nghiệp chế biến.
Tháng 5/2026, Bộ Dân tộc và Tôn giáo cùng Bộ Nông nghiệp và Môi trường ký chương trình phối hợp giai đoạn 2026-2030, xác định cộng đồng là trung tâm; ưu tiên vùng rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và giải quyết đất ở, đất sản xuất, sinh kế.
Giữ đất và giữ rừng thực chất là giữ nền tảng sống của cộng đồng miền núi. Muốn vậy, chính sách phải giải quyết đồng thời ba vấn đề: quyền sử dụng đất ổn định, thu nhập xứng đáng cho người bảo vệ rừng và chuỗi sinh kế có thị trường.
Khi đồng bào được trao quyền, hưởng lợi công bằng và có thể nuôi sống gia đình từ những cánh rừng mình gìn giữ, bảo vệ rừng mới trở thành lựa chọn lâu dài, thay vì một trách nhiệm chỉ dựa vào vận động.

