Bản làng hôm nay

Bản làng hôm nay

Du lịch bản Lồng: Đi chậm để tiến xa

Hoàng Quý 13/08/2026 07:04

Sau nhiều năm chuẩn bị, bản Lồng đã chính thức ghi tên trong bản đồ du lịch cộng đồng của tỉnh Điện Biên. Cảnh quan, văn hóa bản địa và nhịp sống bình yên là vốn quý, nhưng để phát triển du lịch bền vững cần có những bước đi chắc chắn, hài hòa.

1786509990589_4227769927047045383_4227769927047045383_19862378544da1be248a9e5e10755e6e.jpg
Phụ nữ Mông tại bản Lồng tái hiện hoạt động xay ngô. Ảnh: Trần Nhâm

Bình yên bản Lồng

Rời Quốc lộ 6, con đường vào bản Lồng, xã Quài Tở uốn theo sườn núi. Hai bên là những đồi cà phê, mắc ca nối nhau dưới những dải mây thấp. Cách đường chính không xa, dòng thác từ trong rừng đổ xuống từng tầng đá, tạo thành một điểm dừng chân tự nhiên trước khi du khách vào trung tâm bản.

Buổi sáng ở bản Lồng bắt đầu bằng khói bếp, tiếng gà gáy và tiếng cối xay ngô bên hiên nhà. Những ngôi nhà mái thấp nép dưới sườn núi. Người lớn lên nương, trẻ nhỏ đến trường, phụ nữ tranh thủ thêu váy áo. Nhịp sống ấy vốn quen thuộc với người dân, nhưng lại là điều khiến du khách miền xuôi muốn tìm đến.

Bản văn hóa du lịch cộng đồng bản Lồng có 116 hộ với 552 nhân khẩu, đều là đồng bào dân tộc Mông. Cùng với khí hậu mát mẻ, nơi đây còn có thác nước, vách Hàm Rồng, hang Cọp, bãi đá nổi và những mùa hoa mơ, mận, lê, táo mèo nối tiếp nhau trong năm. Đây là nền tảng để địa phương phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và trải nghiệm văn hóa.

Cùng vẻ đẹp của tự nhiên, điều khiến du khách đến với bản Lồng còn nằm trong chính đời sống của người Mông: Kiến trúc nhà ở, trang phục, tiếng nói, tiếng khèn, lễ hội dòng họ, món ăn truyền thống và những công việc thường ngày tưởng như rất đỗi bình thường.

1786509990598_4227769927047045383_4227769927047045383_ba2147fcdd60d533f8ccaf7606a20095.jpg
Phụ nữ Mông giới thiệu nghề may trang phục truyền thống tới du khách. Ảnh: Trần Nhâm

Đến bản Lồng, du khách có thể cùng người dân giã bánh giầy, thêu hoa văn trên vải, nấu một bữa cơm Mông, lội ruộng bắt ốc hoặc đi bộ lên điểm săn mây. Giá trị của chuyến đi vì thế không nằm ở một bức ảnh đẹp, mà ở cơ hội được sống chậm trong không gian văn hóa bản địa.

Ý tưởng xây dựng bản Lồng thành điểm du lịch cộng đồng được triển khai từ năm 2023. Khi ấy, 109 hộ trong bản cùng góp công mở gần 500m đường đến các điểm ngắm cảnh, hang Cọp và vách đá Hàm Rồng. Người mang cuốc, người cầm xẻng, người phát cây. Con đường nhỏ hình thành chủ yếu từ sức dân.

Song song với việc làm đường, địa phương tổ chức năm lớp hướng dẫn người dân về trình diễn dân gian, chế tác khèn, nấu ăn, vận hành homestay và kỹ năng đón tiếp khách. Một số hộ được đưa đi tham quan, học kinh nghiệm tại bản du lịch cộng đồng Sin Suối Hồ, tỉnh Lai Châu.

Ông Mùa A Dề, Người có uy tín ở bản Lồng, là một trong những người đầu tiên đầu tư làm nơi lưu trú. Từ căn nhà của gia đình, ông bố trí thêm bốn phòng với 12 giường, xây dựng nhà tắm và khu vệ sinh, tổng kinh phí khoảng 500 triệu đồng. Ông Mùa A Dề chia sẻ mong muốn “đi trước thử nghiệm” để bà con nhìn thấy hiệu quả rồi cùng tham gia.

Sự tiên phong ấy có ý nghĩa quan trọng ở một bản vùng cao, nơi nguồn thu của người dân lâu nay vẫn dựa chủ yếu vào nông nghiệp. Du lịch là công việc mới, đòi hỏi vốn, kỹ năng và cả sự thay đổi trong sinh hoạt. Không phải gia đình nào cũng sẵn sàng sửa nhà, làm khu vệ sinh hay mở cửa đón người lạ đến ở.

1786509990551_4227769927047045383_4227769927047045383_9c858d03227c8af6c911415a704a83ba.jpg
Du khách ghi lại khoảnh khắc phụ nữ Mông trong trang phục truyền thống trải nghiệm không gian du lịch cộng đồng tại bản Lồng. Ảnh: Trần Nhâm

Theo ông Mùa A Dề, một trong những việc khó nhất là vận động người dân thay đổi thói quen, dọn vệ sinh, chỉnh trang nhà cửa và đưa chuồng nuôi gia súc ra xa khu ở. Qua từng cuộc họp bản, bà con dần hiểu rằng môi trường sạch không chỉ để đón khách mà trước hết phục vụ chính cuộc sống của mình.

Đến nay, bản đã có bốn hộ làm Homestay, có thể phục vụ khoảng 20 khách lưu trú qua đêm. Tại một cơ sở, giá nghỉ được niêm yết ở mức 100.000 đồng mỗi người một đêm; bữa ăn được chuẩn bị theo nhu cầu của đoàn khách. Bản cũng xây dựng chương trình trải nghiệm 2 ngày 1 đêm, kết nối hoạt động khám phá cảnh quan, ẩm thực và giao lưu văn nghệ.

Phụ nữ trong bản cũng tích cực tham gia bằng thế mạnh của mình. Nghề dệt, thêu trang phục Mông được đưa vào hoạt động trải nghiệm. Các nghề rèn, đan lát, làm khèn cùng những sản vật như táo mèo, thảo quả, măng đắng, ốc bản Lồng cũng đang được định hướng trở thành hàng hóa phục vụ khách.

Như vậy, du lịch không chỉ tạo nguồn thu cho hộ có phòng nghỉ. Người làm bếp, thành viên đội văn nghệ, phụ nữ thêu may, người dẫn đường, hộ bán nông sản đều có thể tham gia. Đây mới là ý nghĩa đầy đủ của hai chữ “cộng đồng”.

Từ khi triển khai mô hình đến tháng 4/2026, bản Lồng đã đón hơn 100 đoàn với trên 1.000 lượt người đến tham quan, trải nghiệm. Con số chưa lớn, nhưng cho thấy điểm đến mới đã bắt đầu được thị trường chú ý.

1786509990578_4227769927047045383_4227769927047045383_c47c7f696b3cd6a2b8b6eece1541b9fd.jpg
Mây phủ trên những sườn núi xanh, tạo nên vẻ đẹp hoang sơ, yên bình của bản Lồng giữa đại ngàn Điện Biên. Ảnh: Trần Nhâm

Chính sách mở đường, cộng đồng giữ “tay lái”

Bản Lồng là một trong bảy bản du lịch cộng đồng được tỉnh Điện Biên xác định hỗ trợ trong giai đoạn mới. Nghị quyết số 16/2026/NQ-HĐND, có hiệu lực từ ngày 10/7/2026, dành nhiều chính sách trực tiếp cho các bản và hộ làm du lịch.

Theo nghị quyết, mỗi bản có thể được hỗ trợ cải tạo cảnh quan, xây nhà đón tiếp, đường nội bản, nhà vệ sinh công cộng, hệ thống chiếu sáng và mạng Internet. Hộ dân xây mới homestay được hỗ trợ tối đa 150 triệu đồng; hộ nâng cấp cơ sở hiện có được hỗ trợ tối đa 100 triệu đồng. Cá nhân phát triển nhà ở có phòng cho khách thuê có thể vay tối đa 500 triệu đồng theo quy định.

Nguồn lực này có thể giúp bản Lồng giải quyết những điểm yếu về hạ tầng và chất lượng dịch vụ. Nhưng tiền hỗ trợ không thể thay cộng đồng quyết định cách làm du lịch. Người dân phải được lựa chọn những giá trị nào có thể giới thiệu, phần văn hóa nào cần giữ trong không gian riêng của gia đình, dòng họ.

Bên cạnh đó, du lịch có thể bổ sung cho nông nghiệp, tạo đầu ra cho sản vật và nghề truyền thống, chứ không buộc mọi gia đình phải rời bỏ sinh kế cũ.

Nếu phát triển "nóng", dựng quá nhiều điểm chụp ảnh hoặc biến sinh hoạt thường ngày thành những màn biểu diễn theo giờ, bản có thể thu hút đông khách giai đoạn đầu nhưng sẽ lại mất đi điều du khách muốn tìm kiếm để có hứng thú trở lại.

Sự bình yên của bản Lồng không nên được hiểu là một khung cảnh đứng yên để du khách ngắm nhìn. Đó là kết quả của môi trường sống, nếp nhà, quan hệ cộng đồng và cách

Khi người dân có thu nhập từ việc giữ một nếp nhà, truyền lại đường thêu cho con cháu, bảo vệ dòng thác hay duy trì tiếng khèn, bảo tồn sẽ không còn là lời vận động chung chung. Và khi đó, những giá trị cốt lõi người Mông gìn giữ qua nhiều thế hệ mới thực sự trở thành nguồn lực để du lịch bản Lồng đi chậm mà tiến xa.

Hoàng Quý