Công tác Dân tộc

Công tác Dân tộc

Giải “bài toán” đưa nước sinh hoạt về miền núi: Có công trình nhưng nước sạch không về bản (Bài 2)

Phạm Tiến 17/09/2026 19:04

Mặc dù Nhà nước đã đầu tư không ít công trình cấp nước sinh hoạt cho vùng đồng bào DTTS và miền núi, nhưng tìm hiểu từ thực tế, việc giải quyết nước sinh hoạt vùng cao không chỉ nằm ở việc đầu tư thêm bao nhiêu công trình, mà quan trọng hơn là công trình có nước để người dân sử dụng hay không?

LỜI TÒA SOẠN

Nước sinh hoạt là nhu cầu thiết yếu của mỗi gia đình, nhưng tại nhiều vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, những hạn chế về điều kiện tự nhiên, hạ tầng và công tác quản lý, vận hành khiến bao năm nay, vào mùa khô, bài toán nước sinh hoạt vẫn luôn là nỗi lo thường trực.

Báo VietNamNet trân trọng gửi tới bạn đọc tuyến bài: “Giải ‘bài toán’ đưa nước sinh hoạt về miền núi”, phản ánh thực trạng, những khó khăn trong việc bảo đảm nguồn nước sinh hoạt và những vấn đề đặt ra từ thực tế, qua đó góp thêm góc nhìn về các giải pháp để người dân vùng miền núi được tiếp cận nguồn nước sạch, ổn định và bền vững.

anh 46
Bể nước sinh hoạt ở bản Pà Khốm bỏ hoang. Trong khi đó, người dân lại thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Ảnh: Phạm Tiến

Công trình nước nhưng không có nước

Tại bản Phục, xã Quế Phong, tỉnh Nghệ An, công trình nước sinh hoạt tự chảy Khe Hồi Dương vẫn còn đó. Những bể chứa được xây dựng rải rác theo các cụm dân cư cũng vẫn hiện diện. Nhưng nhiều năm nay, phần lớn đồng bào dân tộc Thái trong bản vẫn không được hưởng lợi từ công trình.

Qua tìm hiểu, công trình này được xây dựng từ năm 2004 bằng nguồn vốn Chương trình 135, phục vụ 174 hộ dân. Hệ thống gồm một bể thu nước và mạng lưới đường ống dẫn nước về 12 bể nhỏ trong bản.

Thế nhưng, trong 12 bể chứa, hiện chỉ còn 2 bể được người dân tận dụng nguồn nước phụ từ khe suối để cấp cho 13 hộ. 10 bể còn lại đã bỏ hoang từ lâu.

Chị Ngân Thị Phượng, Trưởng bản Phục cho biết, do công trình xây dựng từ rất lâu, nhiều lần bị mưa lũ làm hư hỏng. Không có kinh phí sửa chữa nên từ năm 2007 đến nay, công trình không còn hoạt động.

Đây không phải trường hợp cá biệt. Dọc vùng Nậm Giải, xã Quế Phong, nhiều công trình nước tự chảy cũng chung cảnh ngộ. Bản Cáng có 3 bể chứa bị bỏ hoang; công trình cấp nước ở bản Tòng cũng đã ngừng hoạt động.

Điểm chung là các công trình được xây dựng từ nhiều năm trước, xuống cấp hoặc bị thiên tai làm hư hỏng nhưng thiếu nguồn lực duy tu, sửa chữa.

anh 51
Ông Thò Bá Lý , Trưởng bản Pà Khốm, xã Tri Lễ (Nghệ An) chỉ vết tích thân bể chứa nước đã bị nước lũ cuốn trôi. Ảnh: Phạm Tiến

Ngược lên bản Pà Khốm, xã Tri Lễ, nơi có 100 hộ đồng bào Mông sinh sống ở độ cao hơn 1.000m so với mực nước biển, câu chuyện cũng tương tự.

Theo Trưởng bản Thò Bá Lý, Nhà nước đã đầu tư 2 công trình nước sinh hoạt tự chảy. Công trình tại tổ Pà Khốm phục vụ 75 hộ, công trình tại tổ Piêng Luống cấp nước cho 25 hộ.

Tuy nhiên, tại đầu nguồn khe Pà Khốm, phần ngăn dòng của bể thu nước đã bị lũ cuốn trôi hoàn toàn. Để có nước sinh hoạt, người dân phải tự ngăn dòng ở một nguồn nước phụ rồi tìm cách dẫn nước về bản.

“Trận lũ năm 2023 đã cuốn trôi bờ ngăn bể thu nước. Do không có kinh phí xây lại nên công trình bỏ không từ đó đến nay. Công trình ở tổ Piêng Luống hiện cũng hoạt động không hiệu quả”, ông Thò Bá Lý cho biết.

Ở bản Minh Châu, xã Tri Lễ, nơi có 368 hộ đồng bào Mông, Thái và Khơ Mú sinh sống, Nhà nước cũng đã đầu tư 2 công trình nước sinh hoạt tự chảy. Nhưng đến nay, công trình tại tổ Đ1 đã hư hỏng, khiến 75 hộ không còn nguồn nước ổn định.

Chị Lương Thị Hòe, dân tộc Khơ Mú ở bản Minh Châu cho biết, từ tháng 3 đến tháng 6 hằng năm, gia đình phải vào khe suối trong rừng lấy nước. Ngay cả mùa mưa, nước về bản cũng thất thường do đường ống thường xuyên tắc, vỡ.

Người dân từng tính đến phương án khoan giếng, nhưng địa hình đá vôi khiến nguồn nước ngầm nhiễm phèn, không thể sử dụng.

anh 48
Đồng bào dân tộc Mông ở bản Pà Khốm ngăn dòng phụ bằng đá để đưa nước về bản: Ảnh: Phạm Tiến

Công trình 4 tỷ đồng nhưng cả 100 hộ dân vẫn thiếu nước

Nếu nhiều công trình ở Nghệ An không còn hoạt động do đã xây dựng lâu năm, xuống cấp và bị thiên tai tàn phá, thì tại Quảng Trị, có những công trình dù mới được đầu tư nhưng hiệu quả cấp nước cũng chưa đạt yêu cầu.

Theo UBND xã miền núi Tân Thành, trên địa bàn hiện có 4 công trình nước sinh hoạt tự chảy. Tuy nhiên, có công trình đã xuống cấp; có công trình mới xây dựng nhưng vẫn không đủ nước cấp cho người dân.

anh 42
Ông Thò Bá Xô, Trưởng bản Minh Châu kiểm tra bể nước để có biện pháp sửa chữa tạm. Ảnh: Phạm Tiến

Điển hình là công trình cấp nước thôn Hóa Thanh, được xây dựng năm 2024 với tổng mức đầu tư 4 tỷ đồng từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2025.

Thế nhưng, ngay trong mùa khô năm 2025 và 2026, hơn 100 hộ dân vẫn không có nước từ công trình để sử dụng. 137 hộ còn lại cũng phải chia thời gian lấy nước.

Bà Cao Thị Kiều, Trưởng thôn Hóa Thanh cho biết, thôn có 237 hộ thuộc diện sử dụng nguồn nước từ công trình cấp nước tập trung, nhưng thực tế nước chỉ đến được 137 hộ. Khoảng 100 hộ ở vị trí cao không được hưởng lợi.

Không chỉ Tân Thành, tình trạng thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô còn xảy ra tại nhiều khu vực có đông đồng bào DTTS ở Kiêm Điền, Dân Hóa, Khe Sanh...

Những câu chuyện này đặt ra một vấn đề đáng suy nghĩ: Có công trình chưa đồng nghĩa với có nước; hoàn thành đầu tư chưa đồng nghĩa với hoàn thành mục tiêu cấp nước cho người dân.

anh 40
Nhà ở gần bể nước tự chảy, thế nhưng chị Chị Lương Thị Hòe ở bản Minh Châu, xã Tri Lễ vẫn thường xuyên phải đi lấy nước từ xa về để sử dụng. Ảnh: Phạm Tiến

Vì sao công trình có mà nước vẫn thiếu?

Nhìn từ thực tế Nghệ An và Quảng Trị, có thể thấy tình trạng trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan lẫn những bất cập trong đầu tư, quản lý và vận hành công trình.

Trước hết là tác động ngày càng lớn của thiên tai và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Phần lớn công trình nước tự chảy vùng cao phụ thuộc trực tiếp vào khe, suối và nguồn nước mặt. Mưa lũ có thể cuốn trôi đập đầu mối, bể thu, phá hỏng đường ống; trong khi mùa khô kéo dài lại khiến nguồn sinh thủy suy giảm, thậm chí cạn kiệt.

Một số công trình được đầu tư nhưng khả năng thích ứng với biến động nguồn nước và điều kiện khí hậu chưa cao. Khi nguồn nước suy giảm hoặc nhu cầu sử dụng tăng lên, công trình nhanh chóng rơi vào tình trạng thiếu nước.

Trường hợp công trình Hóa Thanh là một ví dụ. Công trình mới được xây dựng nhưng nước không thể cấp đầy đủ cho toàn bộ 237 hộ, nhất là các hộ ở vị trí cao. Điều này bộc lộ hạn chế ngay từ khâu khảo sát nguồn nước, thiết kế công suất, cao độ, mạng lưới phân phối và khả năng đáp ứng trong mùa khô.

Một “điểm nghẽn” khác là thiếu cơ chế quản lý, duy tu, bảo dưỡng sau đầu tư.

Nhiều công trình sau khi hoàn thành được đưa vào sử dụng nhưng nguồn kinh phí dành cho bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên còn hạn chế. Như ở bản Phục hay Pà Khốm cho thấy, vấn đề không chỉ là công trình đã cũ, mà cả khi công trình hư hỏng không có kinh phí hay đơn vị nào đứng ra chịu trách nhiệm sửa chữa hư hỏng.

anh 55
Công trình nước sạch tự chảy ở thôn Hóa Thanh, xã Tân Thành, tỉnh Quảng Trị được đầu tư 4 tỷ đồng, tuy nhiên hoạt động không hiệu quả. Ảnh: Phạm Tiến

Theo ông Lâm Duy Thưởng, Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Nghệ An, từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2025, Nghệ An được bố trí 100 tỷ đồng thực hiện Tiểu dự án giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt thuộc Dự án 1. Theo đó, đã có hơn 100 công trình cấp nước sinh hoạt vùng đồng bào DTTS và miền núi đã được xây dựng.

Với nguồn lực đầu tư này vẫn chưa thể giải quyết được thực trạng thiếu nước ở nhiều địa bàn miền núi Nghệ An đang diễn ra trong những năm qua.

Tại Quảng Trị, nhu cầu đầu tư giải quyết vấn đề về nước sinh hoạt cũng rất lớn. Theo số liệu tổng hợp thực hiện mục tiêu cấp nước sạch đạt quy chuẩn giai đoạn 2026-2030, tỉnh đã đưa 43 công trình vào danh sách cần xây mới, sửa chữa, với tổng mức đầu tư hơn 2.450 tỷ đồng.

Trong đó, 22 công trình dự kiến sử dụng ngân sách địa phương và vốn chương trình mục tiêu quốc gia; 17 công trình đề nghị ngân sách Trung ương bổ sung và 4 công trình sử dụng các nguồn vốn khác.

Từ thực tế tại Nghệ An, Quảng Trị, đang đặt ra yêu cầu cần phải thay đổi về cách tiếp cận trong việc giải quyết nước sinh hoạt cho người dân vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Phạm Tiến