Bản làng hôm nay
Dọc đường mưu sinh theo mùa nước nổi miền Tây: Làng nghề đóng xuồng, ghe tìm hướng đi mới trước khi bị bỏ quên (Bài 2)
Thuận thiên trong mùa nước, khi mà nhịp sống đổi thay, những chiếc xuồng gỗ truyền thống ngày càng vắng bóng trên con nước, làng nghề đóng xuồng, ghe Long Hậu trăm tuổi, nay thuộc xã Hòa Long, tỉnh Đồng Tháp cũng buộc phải thích nghi và đang “thay áo” cho những con xuồng gỗ xưa.
.jpg)
Bên rạch Bà Đài, lửa nghề vẫn chưa tắt
Buổi sáng ở rạch Bà Đài hôm nay không còn cảnh ghe xuồng tấp nập như những năm tháng hoàng kim. Dọc theo con rạch, những xưởng đóng xuồng nằm xen giữa nhà dân, từ một nơi từng có hàng trăm hộ làm nghề, nay chỉ còn khoảng hơn 20 hộ, với hơn 100 lao động bám trụ.
Những người còn ở lại phần lớn là những người đã có hàng chục năm làm nghề, hiểu từng thớ gỗ, từng đường cong của thân xuồng và cũng hiểu hơn ai hết những khó khăn mà nghề truyền thống đang đối mặt.
.jpg)
Ông Trần Văn Tài (61 tuổi, ngụ ấp Long Hòa) đã có hơn 30 năm theo nghề đóng xuồng, ghe. Đôi bàn tay của ông đã quen với công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ. Với ông Tài, công việc hôm nay không còn mang lại thu nhập như trước, nhưng ông vẫn không rời bỏ những tấm ván, những chiếc xuồng.
“Các cụ cao niên kể rằng nghề đóng xuồng, ghe tại các xóm ven rạch Bà Đài hình thành và phát triển mạnh từ đầu thế kỷ 20. Người dân nơi đây biết ơn ông Phạm Văn Thuông (1875 - 1945), thường được gọi là ông Sáu Xuồng Cui, được xem là tổ nghề”, ông Tài chia sẻ.
Theo ông Tài, nhiều người từng là học trò của ông Sáu Xuồng Cui, được truyền dạy từ cách chọn gỗ đến kỹ thuật đóng, sơn, sửa chữa. Từ những kinh nghiệm ấy, xuồng cui và ghe tam bản rạch Bà Đài một thời trở thành những sản phẩm đặc trưng, được biết đến rộng rãi trong toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Có lúc, tiếng búa đóng xuồng vang lên liên hồi bên rạch Bà Đài. Thời hoàng kim, nhất là giai đoạn 1978 - 2000, làng nghề có hơn 200 cơ sở, tạo việc làm cho hơn 1.000 lao động.
Nhưng rồi đường bộ phát triển, phương thức đi lại thay đổi, nhu cầu sử dụng xuồng, ghe cũng giảm dần. Những phương tiện bằng kim loại, composite xuất hiện ngày càng nhiều, tạo thêm sức ép đối với những sản phẩm làm từ gỗ.
Những xưởng từng đông khách trở nên thưa vắng. Nhiều người thợ lần lượt bỏ nghề, chuyển sang công việc khác để mưu sinh. Chỉ có số ít những người chọn trụ lại, trong đó có nhà xưởng của ông Đỗ Minh Cường (52 tuổi, ngụ ấp Long Hòa).
Gặp ông Cường khi đang ráp những be xuồng vào thân, hoàn tất những công đoạn cuối trước khi chuyển cho nhân công chét chai để sớm giao cho khách. Nhịp làm việc trong xưởng vẫn đều đặn, nhưng quy mô không còn như những năm trước.
.jpg)
Từ năm 16 tuổi, ông Cường đã theo cha và những người trong gia đình đi tìm mua cây gỗ sao từ các vườn. Những cây gỗ từ 30 năm tuổi trở lên được đưa về làm nguyên liệu đóng xuồng.
Thời ấy, xuồng cui, ghe tam bản là những sản phẩm đắt hàng. Khách tìm đến rạch Bà Đài nườm nượp, rồi từ đây những chiếc xuồng theo đường sông đi khắp nơi.
“Trước đây, xưởng đóng nhiều xuồng cui bán cho những người đi giăng lưới, thả câu và nông dân làm phương tiện trong mùa nước nổi. Nhu cầu dùng xuồng ghe ngày càng giảm nhưng vì phần yêu nghề, phần để có tiền lo cho gia đình, tôi vẫn theo nghề. Giờ xưởng thuê 4 nhân công, mỗi ngày công tôi trả cho họ 300.000 đồng”, ông Cường chia sẻ.
Câu chuyện của ông Cường hay ông Tài cũng là câu chuyện của nhiều người thợ nơi đây, giữa một bên là nhu cầu thị trường ngày càng thu hẹp, một bên là tình yêu với nghề cha ông để lại, họ phải tự tìm cách cân bằng giữa mưu sinh và gìn giữ.
Thu nhỏ chiếc xuồng, mở rộng đường sống cho nghề xưa
Thấy chiếc xuồng đang đóng có phần nhỏ hơn so với thường thấy trên sông nước, chúng tôi dò hỏi. Ông Cường cho biết, đây là đang đống xuồng thu nhỏ. Việc này chính là cách xưởng của ông và những người thợ nơi đây giữ nghề giữa lúc thị trường ngày càng thu hẹp.
Ông Cường giải thích, những chiếc xuồng thu nhỏ sẽ sử dụng thành đồ trang trí bán cho các điểm du lịch. Những sản phẩm ấy được làm từ các loại gỗ phù hợp để trưng bày như lõi mít, gỗ dầu u, me tây... Màu sắc được giữ tự nhiên, sản phẩm vừa đẹp vừa có độ bền khi đặt trên khô.
"Làm mấy chiếc nhỏ tuy lợi nhuận không bằng hồi trước, nhưng cũng có thêm thu nhập. Quan trọng là mình còn làm, giữ được cái nghề của ông bà để lại", ông Cường nói.
Đến nay, xưởng của ông Cường có thể sản xuất nhiều mẫu xuồng, ghe mi-ni. Mỗi sản phẩm có giá từ 600 nghìn đồng đến 2 triệu đồng, tùy mẫu mã, kích thước. Hướng đi mới này mang lại cho gia đình ông doanh thu cả trăm triệu đồng mỗi năm.
“Làng nghề đóng xuồng, ghe đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Giờ đây, nhiệm vụ của thế hệ sau là phải gìn giữ nghề mà tổ tiên để lại. Nếu chiếc xuồng không còn được dùng nhiều trên sông thì đưa nó vào nhà hàng, khu du lịch, điểm tham quan. Nếu không thể bán những chiếc xuồng lớn thì thu nhỏ lại, làm thành sản phẩm trang trí”, ông Cường tâm sự.
.jpg)
Hơn 40 năm theo nghề, với ông Nguyễn Văn Ích (60 tuổi), những đường cưa, nhát đục, cách ghép gỗ đã trở thành kỹ năng ăn sâu vào tiềm thức.
Để thu nhỏ một chiếc xuồng, ông Ích từng không ít trăn trở, nhưng rồi cũng đành chấp nhận. Bởi ông hiểu rằng không thể bắt thị trường quay lại như ngày xưa, nếu cứ giữ nguyên cách làm cũ mà không có đầu ra thì nghề càng khó tồn tại.
Bà Phạm Thị Hoài, Phó Trưởng Phòng Văn hóa - xã hội xã Hòa Long, cho biết trước đây địa phương từng đề xuất với ngành chức năng về việc mở rộng đường giao thông để phát triển du lịch trải nghiệm tại rạch Bà Đài.
Hiện nay, sau khi sáp nhập các đơn vị hành chính, địa phương đang tiếp tục rà soát trên cơ sở quy hoạch tổng thể để có phương án triển khai. Địa phương cũng như các đơn vị chuyên môn có liên quan tham mưu xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm gắn kết việc phát triển làng nghề với chương trình Xây dựng nông thôn mới.
.jpg)
Qua nhiều thế hệ, nghề đóng xuồng, ghe rạch Bà Đài đã có không ít đổi thay. Hôm nay, những người thợ giỏi còn tâm huyết vẫn tích cực truyền nghề cho con cháu.
Và dù xuồng gỗ có thể không còn xuất hiện dày đặc trên các dòng kênh như trước, nhưng chiếc xuồng mi-ni được tạo ra sẽ trở thành một vật kể chuyện về miền đất có cuộc sống từng vận hành theo mùa nước. Với người thợ, đó cũng là một cách để nghề không bị đứt đoạn.

.jpg)