Tín ngưỡng tôn giáo
Cách để bảo tồn 4 di sản văn hóa người Thái ở xứ Nghệ
Đồng bào Thái ở miền Tây xứ Nghệ có 4 Di sản văn hóa dân gian đậm bản sắc luôn hiện hữu trong đời sống thường ngày. Nhưng, áp lực bảo tồn các di sản văn hóa này đang ngày càng lớn.

Chiều sâu văn hóa của người Thái
Dọc những triền núi phía Tây Nghệ An, văn hóa người Thái hiện hữu trong những hình ảnh nhà sàn nép bên sườn đồi, tiếng khèn bè vang vọng trong đêm hội, điệu lăm mềm mại hay những tấm váy thổ cẩm rực rỡ.
Dưới những lớp trầm tích văn hóa ấy, có 4 loại hình văn hóa dân gian của người Thái được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đó là: Lễ Xăng Khan, Lễ hội Đền Chín Gian, chữ viết và nghề dệt thổ cẩm.
Trước hết là nghề dệt thổ cẩm - một “ngôn ngữ” văn hóa đặc biệt của phụ nữ Thái.
Từ nhỏ, các bé gái đã được bà, mẹ dạy cách xe sợi, nhuộm màu, dệt vải và thêu hoa văn. Trên khung cửi mộc mạc nơi nhà sàn, từng sợi chỉ được đan cài tạo thành những họa tiết mô phỏng núi rừng, sông suối, chim muông hay vòng quay mặt trời.
Mỗi tấm thổ cẩm không chỉ là sản phẩm thủ công, mà còn lưu giữ ký ức cộng đồng và quan niệm thẩm mỹ của người Thái. Những chiếc váy, khăn piêu, tấm đệm, túi vải… luôn hiện diện trong đời sống thường nhật, trong lễ cưới, mừng nhà mới hay các nghi lễ tâm linh.

Nếu thổ cẩm phản ánh sự tinh tế trong đời sống vật chất, thì Lễ Xăng Khan lại cho thấy chiều sâu tín ngưỡng của người Thái.
Đây là nghi lễ dân gian đặc sắc gắn với tín ngưỡng thờ tổ nghề mo và thế giới tâm linh của cộng đồng. Trung tâm nghi lễ, là cây hoa thờ “xặng tàng”, cùng hệ thống đồ cúng, điệu múa, bài mo, tiếng cồng chiêng và các hình thức diễn xướng dân gian phong phú.
Trong mỗi lời mo là cả kho tàng sử thi, lịch sử khai bản lập mường, tri thức dân gian và quan niệm về vũ trụ của người Thái. Lễ Xăng Khan không chỉ mang giá trị tín ngưỡng, mà còn là “bảo tàng sống” của văn hóa dân gian vùng cao.
Cùng với đó, Lễ hội Đền Chín Gian ở xã Quế Phong từ lâu đã trở thành biểu tượng văn hóa tâm linh của người Thái ở miền Tây Nghệ An.
Đền Chín Gian được dựng từ thế kỷ XIV trên đỉnh Pú Chò Nhàng, gắn với tín ngưỡng thờ trời, thờ thần linh và công lao khai mường lập đất của Tạo Ló Ỳ. Mỗi gian đền tượng trưng cho một mường cổ của người Thái xứ Nghệ.

Mỗi mùa lễ hội dịp tháng Hai âm lịch, đồng bào từ khắp nơi lại trở về dâng lễ, tham gia các trò chơi dân gian, hát múa, đánh cồng chiêng và giao lưu văn hóa.
Đây không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng, mà còn là ngày hội đoàn kết cộng đồng của người Thái vùng Phủ Quỳ xưa.
Đặc biệt, việc chữ viết Thái ở Nghệ An được công nhận, là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, mở ra một dấu mốc rất quan trọng trong hành trình gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.
Với cộng đồng người Thái, chữ viết không chỉ đơn thuần là công cụ giao tiếp, mà còn là nơi lưu giữ truyện cổ, sử thi, luật tục, dân ca và các bài mo cổ truyền.
Hiện nay, bộ chữ Thái Lai Tay chính thức được mã hóa trong Unicode 17.0 năm 2025 đã mở ra cơ hội để di sản chữ viết của người Thái bước vào không gian số toàn cầu.
Thách thức giữ gìn di sản
Điều đáng quý là hiện nay, cả 4 Di sản văn hóa người Thái đều chưa bị “đóng khung” trong bảo tàng, mà vẫn tồn tại trong đời sống thường ngày.
Nhưng cũng chính vì thế mà áp lực bảo tồn ngày càng lớn.

Bởi thực tế, nhiều nghệ nhân am hiểu lễ tục, biết dệt cổ truyền hay thông thạo chữ Thái đều đã cao tuổi. Đơn cử như ông Vi Khăm Mun (80 tuổi) ở bản Xiềng Líp, xã Yên Hòa.
Đau đáu với chữ viết Thái có nguy cơ mai một, ông Vi Khăm Mun đã dành nhiều năm nghiên cứu, biên soạn tài liệu dạy tiếng Thái Lai Pao.
"Việc truyền dạy chữ Thái không đơn thuần là dạy viết, dạy đọc mà còn là truyền cả kho tàng giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc cho thế hệ trẻ. Bởi chữ Thái còn thì văn hóa Thái còn", ông Vi Khăm Mun khẳng định.
Trong khi đó, lớp trẻ ngày nay chịu tác động mạnh của đời sống đô thị hóa, mạng xã hội và xu hướng dịch chuyển lao động. Không ít phong tục, lễ nghi, làn điệu dân ca hay kỹ thuật thủ công truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một nếu thiếu người kế tục.
Bà Sầm Thị Bích, Giám đốc Hợp tác xã Làng nghề thổ cẩm Hoa Tiến, xã Châu Tiến cho biết: Trước đây, khi kinh tế thị trường chưa phát triển, các sản phẩm như chăn, áo quần, khăn đều phải tự dệt. Tuy nhiên, khi kinh tế mở cửa, các sản phẩm công nghiệp trở nên phong phú và rẻ hơn, nhu cầu về dệt thổ cẩm giảm sút.
Những năm gần đây, nghề dệt thổ cẩm của đồng bào Thái đang được hồi sinh, bởi một số cá nhân nặng lòng với giá trị văn hóa truyền thống. Một trong những người tiên phong bảo tồn nghề dệt thổ cẩm ở xã Hoa Tiến, là chị Sầm Thị Tình, con gái của bà Sầm Thị Bích.

Chị Tình đã mở một cửa hàng trưng bày và bán sản phẩm thổ cẩm tại Hà Nội với tên gọi "Hoa Tien Brocade". Chị Tình còn chủ động đưa sản phẩm thổ cẩm lên các kênh thương mại điện tử, trưng bày tại hội chợ, hội thảo để quảng bá và tìm đầu ra cho sản phẩm truyền thống.
Bảo vệ di sản phải cụ thể, lâu dài
Thực tế cho thấy, việc bảo tồn di sản hiện nay không thể dừng ở ghi danh hay tôn vinh, mà cần một chiến lược lâu dài.
Đó là việc quan tâm, mở rộng các lớp truyền dạy chữ Thái trong cộng đồng; hỗ trợ nghệ nhân truyền nghề; đưa văn hóa Thái vào trường học, đẩy mạnh các hoạt động du lịch cộng đồng.
Chú trọng xây dựng thương hiệu cho sản phẩm thổ cẩm, số hóa tư liệu văn hóa dân gian và tạo không gian, để lớp trẻ chủ động tiếp cận văn hóa truyền thống bằng ngôn ngữ hiện đại.
Di sản chỉ thực sự sống khi có người thực hành và cộng đồng còn nhu cầu sử dụng.
Bốn di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của người Thái Nghệ An hôm nay không chỉ là niềm tự hào của riêng một tộc người, mà còn là “căn cước văn hóa” của miền Tây xứ Nghệ.
Trong nhịp sống hiện đại, khi tiếng khung cửi vẫn vang trong nhà sàn, khi những lớp học chữ Thái vẫn sáng đèn nơi bản nhỏ, khi điệu lăm còn ngân lên trong lễ hội, điều đó cũng đồng nghĩa với việc mạch nguồn văn hóa người Thái vẫn đang được tiếp nối.
Và hành trình giữ gìn hồn cốt văn hóa ấy sẽ còn cần rất nhiều bàn tay, nhiều thế hệ cùng chung sức để những di sản văn hóa miền Tây xứ Nghệ tiếp tục bền vững cùng thời gian.

.jpg)


