Bàn tròn chính sách

Bàn tròn chính sách

Nhìn trúng điểm nghẽn đặc thù để thực hiện chính sách dân tộc: Giao đất chưa phải là đích đến

Sỹ Hào 31/07/2026 07:00

Qua nhiều năm triển khai chính sách hỗ trợ đất sản xuất, điểm nghẽn không chỉ nằm ở việc giao đất, mà còn ở khả năng tạo lập quỹ đất, giúp người dân giữ được đất và biến đất thành sinh kế bền vững.

Lời tòa soạn:

Dù đã đạt được những kết quả tích cực, nhưng việc giải quyết các nhu cầu thiết yếu của người dân (đất ở, nhà ở, đất sản xuất, điện, nước sinh hoạt, sinh kế) hiện vẫn là những điểm nghẽn đặc thù ở vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Trong Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 12/5/2026 về đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và kết luận phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia ngày 9/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đều yêu cầu các bộ ngành, địa phương tập trung giải quyết các điểm nghẽn này.

Từ thực tiễn triển khai qua nhiều thập niên, Báo VietNamNet thực hiện tuyến bài “Nhìn trúng điểm nghẽn đặc thù để thực hiện chính sách dân tộc”. Tuyến bài nhận diện những vướng mắc trong quá trình thực thi và đặt ra những vấn đề cần giải quyết để nâng cao hiệu quả chính sách hỗ trợ đất ở, nhà ở, đất sản xuất, điện, nước sinh hoạt và sinh kế ở vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Sau hàng chục năm thực hiện, đất sản xuất vẫn là nhu cầu chưa được giải quyết của hàng trăm nghìn hộ đồng bào DTTS. Điều đó cho thấy điểm nghẽn của chính sách không chỉ nằm ở việc giao đất, mà còn ở khả năng tạo lập và giữ được quỹ đất cho người dân.

Giai đoạn 2026 - 2030, chính sách này tiếp tục được thực hiện theo Quyết định số 417/QĐ-BNNMT. Để chính sách thực sự đi đến đích, cần nhận diện và tháo gỡ đồng thời những điểm nghẽn đặc thù trong thực hiện chính sách đất đai đối với đồng bào DTTS.

giao đất 2
Với đại đa số đồng bào DTTS ở miền núi, khu vực nông thôn, đất sản xuất là tư liệu sản xuất quan trọng nhất. Ảnh: Sỹ Hào

“Nút thắt” của giảm nghèo bền vững

Giai đoạn 2021 - 2025, hỗ trợ đất sản xuất là nội dung chính sách thuộc Dự án 1 của Chương trình MTQG 1719. Mục tiêu là giải quyết nhu cầu đất sản xuất cho hơn 47.200 hộ đồng bào DTTS.

Nhưng đến cuối giai đoạn, toàn vùng mới có 13.387 hộ được hỗ trợ, tương đương khoảng 28,4% kế hoạch.

Hộ nghèo có xu hướng tập trung trong đồng bào DTTS

Hết năm 2025, cả nước có 331.002 hộ nghèo người DTTS, chiếm hơn 69,9% tổng số hộ nghèo cả nước. Trước đó, năm 2015 tỷ lệ này là 45,25%; năm 2016 là 48,22%; năm 2017 là 52,66%, năm 2018 là 55,27%...
Ngoài ra, số hộ cận nghèo người DTTS cũng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số hộ cận nghèo của cả nước. Hết năm 2025, toàn quốc có 608.873 hộ cận nghèo, trong đó có 301.092 hộ người DTTS, chiếm tỷ lệ hơn 49,9%.

(Nguồn: Quyết định số 806/QĐ-BNNMT ngày 11/3/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Báo cáo số 732/BC-UBDT ngày 10/6/2021 của Ủy ban Dân tộc)

Hỗ trợ đất sản xuất trở thành một trong những chỉ tiêu không hoàn thành của Chương trình MTQG 1719 - theo đánh giá của Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình MTQG tại hội nghị tổng kết tổ chức ngày 13/8/2025.

Đây cũng là kết quả tương tự của các giai đoạn trước đó, đồng thời số hộ thiếu đất sản xuất có xu hướng tăng lên.

Theo báo cáo của Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo), giai đoạn 2012 - 2016, vùng đồng bào DTTS và miền núi có 293.934 hộ có nhu cầu hỗ trợ đất sản xuất.

Đến năm 2019, khi Chính phủ rà soát để xây dựng Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 thì vẫn còn 303.587 hộ thiếu đất sản xuất.

Thiếu đất sản xuất đang là nguyên nhân của nhiều vấn đề xã hội ở vùng đồng bào DTTS (di cự tự do, phát rừng làm rẫy…). Đặc biệt, ở nhiều địa phương vùng đồng bào DTTS và miền núi còn nhiều hộ nghèo, cận nghèo do thiếu đất sản xuất.

Đơn cử, Điện Biên hiện có 11.087 hộ nghèo, cận nghèo thiếu đất sản xuất; Sơn La có 10.411 hộ, Quảng Ngãi có 4.091 hộ... Những con số này cho thấy, đất sản xuất vẫn là vấn đề then chốt trong tạo sinh kế và giảm nghèo bền vững, quyết định khả năng vươn lên của một bộ phận đồng bào DTTS.

giao đất 3
Đất sản xuất vẫn là vấn đề then chốt trong tạo sinh kế và giảm nghèo bền vững, quyết định khả năng vươn lên của một bộ phận đồng bào DTTS. Ảnh: Sỹ Hào

Như vậy, qua nhiều giai đoạn triển khai chính sách hỗ trợ, bài toán đất sản xuất vẫn chưa được giải quyết tận gốc, nhu cầu vẫn lớn hơn nhiều so với khả năng đáp ứng. Đây chính là điểm nghẽn đầu tiên cần được tháo gỡ nếu muốn chính sách đất đai cho đồng bào DTTS thực sự đi đến đích.

Chuyển đổi nghề trở thành lựa chọn bất đắc dĩ

Trước thực tế nhu cầu về đất sản xuất rất lớn nhưng việc giao đất gặp khó khăn, nhiều địa phương đã chuyển trọng tâm sang hỗ trợ chuyển đổi nghề. Giai đoạn 2021 - 2025, đây là một nội dung chính sách của Dự án 1 của Chương trình MTQG 1719.

Quyết định số 1719/QĐ-TTg ghi rõ điều kiện để triển khai là “chính quyền địa phương không bố trí được đất sản xuất thì hộ không có đất hoặc thiếu đất sản xuất được hỗ trợ chuyển đổi nghề”. Đây có thể xem là cơ sở để các địa phương “bỏ khó, chọn dễ” khi thực hiện Dự án 1.

Đơn cử tại Quảng Ngãi, thực hiện Chương trình MTQG 1719, tỉnh dự kiến hỗ trợ đất sản xuất cho 2.045 hộ. Nhưng kết thúc giai đoạn và cả trong 6 tháng năm 2026, toàn tỉnh hỗ trợ được 558 hộ, trong khi thực hiện hỗ trợ được 8.159 hộ chuyển đổi nghề.

Đây cũng là tình hình chung của hầu hết các địa phương khi thực hiện Dự án 1, đưa đến kết quả toàn vùng hỗ trợ được 54.899 hộ chuyển đổi nghề.

Khó bố trí quỹ đất để thực hiện giao đất cho các hộ có nhu cầu nên chuyển sang hỗ trợ chuyển đổi nghề là điểm nổi bật trong báo cáo tổng kết thực hiện Chương trình MTQG 1719 của nhiều địa phương.

Giải quyết đất ở, hỗ trợ trực tiếp đất sản xuất, hỗ trợ chuyển đổi nghề, sắp xếp ổn định dân cư và đào tạo nghề là các nội dung chính sách không đạt mục tiêu khi tổng kết Chương trình MTQG 1719. Đây tiếp tục là những vấn đề cấp bách được thiết kế thành nội dung thành phần thuộc Chương trình MTQG giai đoạn 2026 - 2030 theo Quyết định số 417/QĐ-BNNMT.

Nhưng cũng cần thấy rằng, chuyển đổi nghề chỉ là phương án thay thế, có ý nghĩa đối với những hộ không còn khả năng sản xuất, hoặc với người dân ở khu vực đô thị.

Còn với phần lớn đồng bào miền núi, khu vực nông thôn, đất sản xuất vẫn là tư liệu sản xuất quan trọng nhất.

Một vấn đề cần quan tâm là, định mức hỗ trợ chuyển đổi nghề tối đa là 10 triệu đồng/hộ để mua sắm máy móc, nông cụ làm dịch vụ sản xuất nông nghiệp, học nghề, hoặc chuyển sang các ngành nghề, dịch vụ khác. Định mức này sẽ rất khó tạo đột phá để hộ nghèo ở địa bàn đặc biệt khó khăn chuyển sang ngành nghề, dịch vụ khác.

Đặc biệt, việc hỗ trợ chuyển đổi nghề cần được nghiên cứu kỹ lưỡng trong giai đoạn tới, nhất là khi thực hiện hỗ trợ đối với các hộ nghèo, hộ cận nghèo không có khả năng lao động. Theo kết quả rà soát của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước hiện có 99.588/480.278 hộ nghèo và 103.590/608.873 hộ cận nghèo do không có khả năng lao động.

Chính sách phải đi trọn chặng đường sau giao đất

Trong tháng 7/2026, đoàn kiểm tra liên ngành (Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Tài chính) đã tiến hành rà soát kết quả thực hiện Chương trình MTQG 1719 ở các địa phương. Cũng trong thời gian này, Hội đồng Dân tộc của Quốc hội cũng đã tổ chức các đoàn công tác về cơ sở để đánh giá việc thực hiện chính sách đất đai cho đồng bào DTTS.

Kết quả kiểm tra cho thấy, nội dung hỗ trợ đất sản xuất vẫn là bài toán khó đối với các địa phương, ngoài thiếu quỹ đất để giao thì còn do định mức hỗ trợ thấp. Trong khó khăn chung đó, một số địa phương đã chủ động bố trí nguồn lực và tìm kiếm quỹ đất để đưa chính sách đến với đồng bào.

Tại Thái Nguyên, theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nông Quang Nhất, tỉnh đang nghiên cứu hỗ trợ đất xen ghép nhằm hạn chế tình trạng thiếu quỹ đất. Đồng thời, từ năm 2026, tỉnh dự kiến hỗ trợ 60 triệu đồng/hộ để đồng bào mua đất sản xuất, cao hơn so với quy định Trung ương.

Còn tại Gia Lai, HĐND tỉnh này đã ban hành Nghị quyết số 71/2026/NQ-HĐND quy định chính sách đất đai đối với đồng bào DTTS. Đáng chú ý, nghị quyết này đã mở rộng các phương án tạo quỹ đất khi không còn đất để giao (Ưu tiên giao khoán đất có nguồn gốc từ các nông, lâm trường; cho người dân thuê đất phi nông nghiệp kèm chính sách miễn, giảm tiền thuê đất nếu không thể bố trí đất nông nghiệp…).

giao đất
Vùng đồng bào DTTS và miền núi còn nhiều hộ nghèo, cận nghèo do thiếu đất sản xuất. Ảnh: Sỹ Hào

Sự chủ động của địa phương là cần thiết để giải quyết căn bản tình trạng thiếu đất sản xuất trong đồng bào DTTS. Nhưng bài toán đặt ra không dừng lại ở việc tạo quỹ đất, tiến hành giao đất. Một vấn đề khác cũng cần được quan tâm là cơ chế bảo vệ quỹ đất của đồng bào DTTS sau khi đã được giao.

Thực tế nhiều năm qua cho thấy, dù pháp luật đã có những quy định hạn chế chuyển nhượng đất chính sách, song việc quản lý trên thực tế vẫn còn nhiều bất cập. Trong khi đó, biến đổi khí hậu, thiên tai, sạt lở đất diễn biến ngày càng phức tạp cũng làm phát sinh nhu cầu tái bố trí đất ở cho nhiều hộ dân miền núi.

Rõ ràng, sau nhiều năm triển khai, điểm nghẽn của chính sách đất đai đối với đồng bào DTTS không chỉ nằm ở việc giao đất, mà còn ở khả năng tạo lập quỹ đất, bảo vệ quỹ đất sau giao và giúp người dân khai thác hiệu quả để tạo sinh kế.

Chính sách đất đai chỉ thực sự hoàn thành sứ mệnh khi đất được giao không chỉ giúp người dân có nơi canh tác, mà còn trở thành tài sản để tích lũy, sinh kế để vươn lên và nền tảng để thoát nghèo bền vững.

Bài 4: Có nhà chưa phải là an cư

Sỹ Hào