Nhìn trúng điểm nghẽn đặc thù để thực hiện chính sách dân tộc: “Khát” giữa đầu nguồn
Hàng loạt công trình nước sạch đã được đầu tư trong nhiều năm qua, nhưng “cơn khát” ở nhiều địa bàn ở vùng đồng bào DTTS và miền núi vẫn chưa được giải quyết dứt điểm.
Lời tòa soạn:
Dù đã đạt được những kết quả tích cực, nhưng việc giải quyết các nhu cầu thiết yếu của người dân (đất ở, nhà ở, đất sản xuất, điện, nước sinh hoạt, sinh kế) hiện vẫn là những điểm nghẽn đặc thù ở vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Trong Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 12/5/2026 về đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và kết luận phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia ngày 9/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đều yêu cầu các bộ ngành, địa phương tập trung giải quyết các điểm nghẽn này.
Từ thực tiễn triển khai qua nhiều thập niên, Báo VietNamNet thực hiện tuyến bài “Nhìn trúng điểm nghẽn đặc thù để thực hiện chính sách dân tộc”. Tuyến bài nhận diện những vướng mắc trong quá trình thực thi và đặt ra những vấn đề cần giải quyết để nâng cao hiệu quả chính sách hỗ trợ đất ở, nhà ở, đất sản xuất, điện, nước sinh hoạt và sinh kế ở vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Giai đoạn 2026 - 2030, chính sách hỗ trợ nước sinh hoạt cho đồng bào DTTS được tích hợp trong Nội dung thành phần 02 của Hợp phần thứ nhất, thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi, theo Quyết định số 417/QĐ-BNNMT.
Chính sách do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, hướng dẫn thực hiện, với mục tiêu đến năm 2030, 100% đồng bào DTTS được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 20% sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn.
Để đạt mục tiêu này, điều quan trọng không chỉ là tiếp tục đầu tư, mà còn phải nhìn thẳng vào những "nút thắt" trong quá trình thực hiện chính sách trong những năm vừa qua.

Chính sách nối dài, “cơn khát” vẫn hiện hữu
Chính sách hỗ trợ nước sinh hoạt cho đồng bào DTTS đã được triển khai liên tục trong nhiều chương trình, dự án (Chương trình 135, Chương trình 134, Chương trình 30a, Chương trình MTQG 1719,…). Nhưng đây vẫn đang là nhu cầu cấp bách ở nhiều địa bàn vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Đơn cử là thôn Krong Đuân - một trong những thôn khó khăn nhất của xã Đăk Pxi, tỉnh Quảng Ngãi. Theo ông A Xim, Trưởng thôn Krong Đuân, nhu cầu cấp thiết nhất của thôn là nước sinh hoạt.
Thôn đã được đầu tư hệ thống nước tự chảy. Nhưng sau nhiều năm hoạt động, công trình đã xuống cấp, vào mùa khô, 262 hộ ở Krong Đuân thường thiếu nước sinh hoạt, nhất là 50 hộ sinh sống ở cuối tuyến dẫn nước.
Ở xã Đăk Pxi không chỉ có Krong Đuân thiếu nước sinh hoạt. Theo Chủ tịch UBND xã Phan Văn Cường, hiện trên địa bàn vẫn còn một số thôn - chủ yếu thuộc xã Đăk Pxi của huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum cũ, thường thiếu nước sinh hoạt cục bộ.
Đăk Pxi cũng không phải là xã duy nhất của tỉnh Quảng Ngãi đang có những địa bàn trọng điểm thiếu nước sinh hoạt. Như xã Đăk Rve đang đề xuất, tỉnh sớm đầu tư hệ thống cấp nước sinh hoạt mới cho 6 thôn trên địa bàn - nơi hơn 4.000 nhân khẩu đang phụ thuộc hoàn toàn vào các công trình nước tự chảy thiếu nước vào mùa nắng, nước lẫn bùn đất vào mùa mưa.

Thực trạng này chỉ ra một “khoảng trống” trong thực hiện chính sách đầu tư, hỗ trợ nước sinh hoạt của tỉnh Quảng Ngãi. Giai đoạn 2021 - 2025, theo Báo cáo số 170/BC-SDTTG ngày 24/6/2026 của Sở Dân tộc và Tôn giáo Quảng Ngãi, từ vốn Chương trình MTQG 1719, tỉnh đã đầu tư 85 công trình nước sinh hoạt tập trung, đồng thời hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 18.597 hộ.
Điểm nghẽn sau những công trình nước sạch
Cũng như Quảng Ngãi, chính sách hỗ trợ nước sinh hoạt được các địa phương vùng đồng bào DTTS và miền núi thực hiện từ hàng chục năm nay.
Riêng giai đoạn 2021 - 2025, theo Báo cáo số 812/BC-BDTTG ngày 31/3/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, toàn vùng đã đầu tư 809 công trình nước sinh hoạt tập trung, đồng thời có 479.358 hộ hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán.
Những con số đó phản ánh nỗ lực rất lớn của Nhà nước, nhưng “cơn khát” vẫn hiện hữu ở nhiều địa bàn. Điều đó đặt ra yêu cầu phải nhìn lại cách thức đầu tư, quản lý và vận hành các công trình nước sinh hoạt.

Một thực tế cho thấy là, tỷ lệ công trình phát huy hiệu quả sau đầu tư đang có vấn đề. Đơn cử tại tỉnh Kon Tum cũ, trước khi sáp nhập với Quảng Ngãi, trên địa bàn có 315 công trình cấp nước sinh hoạt ở khu vực nông thôn thì có tới 32,7% hoạt động kém bền vững và 9,2% không hoạt động.
Nhìn rộng ra, theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước hiện có 18.109 công trình cấp nước tập trung nông thôn. Trong đó chỉ có 32% công trình hoạt động bền vững, 26,3% hoạt động tương đối bền vững, 41,7% kém bền vững và không hoạt động.
Mặc dù đầu tư nhiều nhưng tỷ lệ hộ sử dụng nước từ công trình cấp nước tập trung chỉ đạt 55,1% và có sự chênh lệch lớn giữa các vùng. Trong đó, đồng bằng sông Hồng là 75,1%, đồng bằng sông Cửu Long 72,0%, trung du và miền núi phía Bắc 17,7%, Tây Nguyên chỉ 12,7%.
(Nguồn: Cục Quản lý và xây dựng công trình thủy lợi)
Theo ông Lương Văn Anh, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), hiện cả nước còn khoảng 6.000 công trình quy mô nhỏ.
Nhiều công trình chỉ đắp suối, dẫn nước bằng đường ống nên chất lượng chưa bảo đảm, hiệu suất khai thác thấp. Trong khi hiện nay khoảng 72,5% công trình do UBND cấp xã và cộng đồng quản lý nên việc duy tu, bảo dưỡng còn nhiều hạn chế.
Thực tế đó cho thấy, việc giải quyết nhu cầu nước sinh hoạt cho đồng bào DTTS không thể chỉ tính bằng số lượng công trình. Dù đầu tư nhiều, nhưng nếu công trình quy mô nhỏ, thiếu kinh phí duy tu, bảo dưỡng, thiếu cơ chế quản lý, vận hành hiệu quả thì mục tiêu bảo đảm nước sinh hoạt bền vững vẫn khó thành hiện thực.
Từ “cắt khát” đến nước sinh hoạt an toàn
Chính sách hỗ trợ nước sinh hoạt cho đồng bào DTTS tiếp tục được triển khai trong thời gian tới, do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, hướng dẫn thực hiện.
Để đạt mục tiêu 100% đồng bào DTTS được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh vào năm 2030, thách thức đặt ra cho cơ quan chủ quản chính sách là không hề nhỏ.
Theo điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 DTTS năm 2024, cả nước có gần 3,88 triệu hộ người DTTS, tỷ lệ sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh đạt 93,6%. Tính ra vẫn còn 6,4% (tương đương khoảng 248 nghìn hộ) chưa có điều kiện sử dụng nước sinh hoạt an toàn.
Đáng bàn là, số hộ còn thiếu hụt chỉ số nước sinh hoạt chủ yếu sinh sống phân tán ở vùng sâu, vùng xa. Đây là nhóm dân cư khó tiếp cận nhất với các dịch vụ cấp nước tập trung, đòi hỏi chính sách không chỉ tăng nguồn lực đầu tư, mà còn phải có giải pháp linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa bàn.
Một chỉ tiêu đáng chú ý được Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt ra là đến năm 2030, có 20% hộ DTTS sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn. Điều này cho thấy, tư duy chính sách đã chuyển từ mục tiêu bảo đảm có nước sinh hoạt sang nâng cao chất lượng nước và chất lượng phục vụ.
Nhưng theo ông Nguyễn Thành Luân, Giám đốc Trung tâm Quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, việc nâng tỷ lệ hộ ở khu vực miền núi được sử dụng nước đạt chuẩn là một bài toán khó giải. Bởi theo quy chuẩn mới theo Thông tư 52/2024/TT-BYT của Bộ Y tế đòi hỏi nguồn nước phải đạt 99 thông số kỹ thuật nghiêm ngặt.

Việc thu hẹp khoảng cách tiếp cận nước sạch giữa các vùng miền đang là nhiệm vụ khó khăn khi tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước đạt chuẩn tại khu vực miền núi mới chỉ đạt khoảng 18%. Cá biệt có những địa phương như Cao Bằng chỉ đạt 11%, Điện Biên là 12%...
Rõ ràng, sau nhiều năm triển khai, bài toán nước sinh hoạt ở vùng đồng bào DTTS và miền núi đã bước sang một giai đoạn mới. Vấn đề không còn đơn thuần là đầu tư thêm bao nhiêu công trình hay hỗ trợ thêm bao nhiêu hộ dân, mà là xây dựng một cơ chế bảo đảm các công trình hoạt động bền vững, phù hợp với điều kiện dân cư phân tán và biến đổi nguồn nước ở miền núi.
Mục tiêu đến năm 2030, 100% đồng bào DTTS được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh sẽ chỉ trở thành hiện thực nếu chính sách chuyển mạnh từ từ tư duy “đầu tư công trình” sang tư duy “cung cấp dịch vụ nước sinh hoạt bền vững”; từ hoàn thành chỉ tiêu đầu tư sang bảo đảm người dân được sử dụng nước sạch ổn định, lâu dài. Chỉ khi nhìn trúng những “điểm nghẽn” đặc thù đó, “cơn khát” giữa đầu nguồn mới thực sự được hóa giải.
Bài 2: Điện lưới đã về bản, sinh kế vẫn chưa sáng




