Thành tựu và Phát triển
Dữ liệu số mở đường hậu kiểm an toàn vệ sinh thực phẩm ở Cao Bằng
Từ số hóa thông tin cơ sở, sản phẩm đến truy xuất nguồn gốc, dữ liệu đang từng bước trở thành công cụ giúp ngành Nông nghiệp Cao Bằng chuyển từ kiểm tra dàn trải sang hậu kiểm an toàn vệ sinh thực phẩm có trọng tâm, dựa trên mức độ rủi ro.
Với địa bàn rộng, nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ, hộ gia đình và sản phẩm đặc trưng địa phương, yêu cầu quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) tại Cao Bằng ngày càng cao.
Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số không chỉ giúp cơ quan quản lý số hóa thông tin mà còn từng bước hình thành nguồn dữ liệu phục vụ giám sát, truy xuất và kiểm soát nguy cơ mất ATVSTP.

Không chỉ số hóa, mà phải tạo ra dữ liệu quản lý
Từ năm 2019 đến nay, Sở Nông nghiệp và Môi trường Cao Bằng đã xây dựng, vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông, lâm nghiệp; đồng thời phát triển phần mềm ứng dụng di động “Nông sản Cao Bằng”, kết nối trực tiếp với hệ thống.
Hiện hệ thống có 360 tài khoản đăng ký và được kích hoạt, 256 sản phẩm thực hiện truy xuất nguồn gốc. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh đã phê duyệt, cấp mã lệnh in cho 269 lượt doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở, hộ sản xuất, kinh doanh, với tổng số 121.335 tem.
Những con số này cho thấy dữ liệu về sản phẩm nông, lâm nghiệp tại Cao Bằng đang từng bước được hình thành ở cấp cơ sở, sản phẩm và chủ thể sản xuất, kinh doanh. Đây là tiền đề quan trọng để cơ quan quản lý có thêm thông tin phục vụ theo dõi, giám sát thay vì chỉ dựa vào hồ sơ tại từng thời điểm kiểm tra.
Mở rộng “dấu vết số” cho sản phẩm
Ngoài hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông, lâm nghiệp của Sở Nông nghiệp và Môi trường, Cao Bằng cũng đang vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm hàng hóa do Sở Khoa học và Công nghệ quản lý. Sở Khoa học và Công nghệ Cao Bằng đã phê duyệt, cấp mã lệnh in cho 129 lượt doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở, hộ sản xuất kinh doanh, tổng số 218.780 tem.
Hệ thống truy xuất nguồn gốc cũng góp phần minh bạch thông tin sản phẩm, tạo kết nối giữa nhà sản xuất, cơ quan quản lý và người tiêu dùng, đồng thời hỗ trợ các chủ thể tham gia Chương trình OCOP của tỉnh.
Theo ông Nông Quốc Hùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Cao Bằng, việc số hóa dữ liệu giúp cơ quan quản lý có thêm một “bức tranh” tương đối đầy đủ về các cơ sở và sản phẩm thuộc phạm vi quản lý. Quan trọng hơn, dữ liệu được cập nhật thường xuyên tạo nền tảng để theo dõi quá trình chấp hành quy định của từng cơ sở, thay vì chỉ đánh giá tại một thời điểm kiểm tra.
Giá trị của dữ liệu, vì thế, không chỉ nằm ở việc lưu trữ thông tin. Khi được cập nhật, chuẩn hóa và khai thác, dữ liệu có thể trở thành cơ sở để cơ quan quản lý xác định những cơ sở, sản phẩm hoặc khâu trong chuỗi sản xuất cần được giám sát, kiểm tra sâu hơn.
Khi sản phẩm có “lý lịch số”
Truy xuất nguồn gốc là một trong những hướng ứng dụng công nghệ có thể tạo ra thay đổi rõ nét trong kiểm soát ATVSTP. Với sản phẩm được truy xuất, người tiêu dùng có thể tiếp cận thông tin nhanh chóng; còn cơ quan quản lý có thêm dữ liệu để truy ngược khi phát hiện vấn đề về chất lượng hoặc an toàn thực phẩm.
Cùng với mã truy xuất, ngành Nông nghiệp Cao Bằng đang thực hiện việc công khai thông tin tự công bố sản phẩm trên trang thông tin điện tử của Sở. Đây là một lớp thông tin bổ sung, giúp người tiêu dùng và cơ quan quản lý có thêm căn cứ để đối chiếu khi cần thiết.

Đơn cử, bản tự công bố ngày 29/7/2026 của Công ty TNHH Công nghệ NHONHO đối với sản phẩm miến dong Ngân Hà đã cung cấp thông tin về sản phẩm, đồng thời thể hiện cam kết của doanh nghiệp trong bảo đảm ATVSTP.
Việc công khai các thông tin liên quan đến sản phẩm góp phần tăng tính minh bạch trong chuỗi cung ứng. Khi thông tin được chuẩn hóa và lưu trữ trên môi trường số, cơ quan quản lý có thể thuận lợi hơn trong việc đối chiếu giữa hồ sơ, sản phẩm thực tế và kết quả kiểm tra.
Thực tiễn quản lý ATVSTP cho thấy, khi một sản phẩm có vấn đề được phát hiện, câu hỏi đặt ra không chỉ là sản phẩm đó có bảo đảm an toàn hay không, mà còn là: sản phẩm được sản xuất ở đâu, từ nguồn nguyên liệu nào, qua những khâu nào và đang được tiêu thụ ở đâu?
Càng trả lời được nhanh và chính xác những câu hỏi đó, năng lực hậu kiểm càng được nâng lên. Vì vậy, “lý lịch số” của sản phẩm không chỉ là tiện ích dành cho người tiêu dùng mà còn là một lớp dữ liệu quan trọng trong hệ thống quản lý rủi ro ATTP.
Dữ liệu dẫn đường cho hậu kiểm an toàn vệ sinh thực phẩm
Có dữ liệu mới chỉ là bước đầu. Giá trị lớn hơn của chuyển đổi số nằm ở khả năng sử dụng dữ liệu để nhận diện nguy cơ và lựa chọn đúng đối tượng cần kiểm tra.
Nâng nhận thức để tăng hiệu quả hậu kiểm
Cùng với tăng cường kiểm tra, ngành Nông nghiệp Cao Bằng đã chú trọng tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về ATVSTP. Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã tổ chức 280 cuộc nói chuyện, tuyên truyền lồng ghép thông qua các buổi họp xóm, sinh hoạt chi hội... với trên 26.159 lượt người tham dự về các nội dung liên quan đến ATVSTP; tổ chức 226 buổi phát sóng trên hệ thống loa phát thanh, 30 buổi truyền thông lưu động tại các chợ, điểm tập trung đông dân cư trên địa bàn.
Trong quản lý ATVSTP, nguồn lực kiểm tra có giới hạn, trong khi số lượng cơ sở, sản phẩm và địa bàn cần giám sát rất lớn.
Bởi vậy, thay vì kiểm tra theo cách dàn trải, cơ quan quản lý cần tập trung hơn vào những nhóm sản phẩm, cơ sở và địa bàn có nguy cơ cao.
Đây cũng là lý do ngành Nông nghiệp Cao Bằng tăng cường hoạt động lấy mẫu giám sát, bổ sung thông tin thực tế vào quá trình đánh giá nguy cơ.
Gần đây nhất, trong tháng 6/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường Cao Bằng tổ chức đợt cao điểm lấy mẫu giám sát ATVSTP trên diện rộng.
Các đoàn công tác đã lấy 275 mẫu sản phẩm thực phẩm tại phường Thục Phán và các xã Đoài Dương, Trùng Khánh, Nguyễn Huệ, Phục Hòa, Trà Lĩnh, Hạ Lang, Quảng Uyên, Đông Khê...
Nhóm thực phẩm được lựa chọn lấy mẫu là những sản phẩm có nguy cơ cao mất ATVSTP. Kết quả kiểm tra cho thấy cơ bản các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm chấp hành tốt quy định, các mẫu sản phẩm cơ bản đáp ứng yêu cầu về ATVSTP.
Theo ông Nông Quốc Hùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Cao Bằng, việc lấy mẫu trên diện rộng nhằm đánh giá nguy cơ gây mất ATVSTP; qua đó kịp thời phát hiện, truy xuất nguồn gốc sản phẩm và xử lý đối với những cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm không bảo đảm chất lượng, góp phần ngăn ngừa nguy cơ ngộ độc thực phẩm, bảo vệ sức khỏe và quyền lợi người tiêu dùng.

.jpg)

