Tin tức - Sự kiện
Từ khát vọng 2045 đến một kiến trúc phát triển mới
Ngày 2/9/1945, trên Quảng trường Ba Đình, một dân tộc vừa giành lại độc lập đã tuyên bố với thế giới quyền tự quyết định vận mệnh của mình. Đó cũng là sự mở đầu cho hành trình người Việt Nam tự kiến tạo tương lai của chính mình.
| LTS:Tám mươi mốt năm sau ngày Độc lập 2/9/1945, Việt Nam đã đi một chặng đường dài từ một đất nước nghèo trở thành nền kinh tế hơn 500 tỷ USD và bước vào nhóm nước thu nhập trung bình cao. Câu hỏi đặt ra với chặng đường phía trước: Làm thế nào để một đất nước đã thoát nghèo trở thành một nước giàu mạnh? Nhân dịp Quốc khánh 2/9, Tuần Việt Nam giới thiệu tuyến bài nhìn vào những nguồn lực Việt Nam đang có và những thay đổi cần thiết để tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Xem lại bài 1: Tầm nhìn Việt Nam trong giai đoạn mới |
Tám mươi mốt năm đã đi qua. Lịch sử hôm nay đặt trước chúng ta một câu hỏi ở tầm cao mới: Một dân tộc đã giành được độc lập có thể vươn lên trở thành một quốc gia phát triển, phồn vinh, hạnh phúc và đủ sức tự chủ trước những biến động của thế giới hay không?
Năm 2045 - tròn một thế kỷ thành lập nước - vì thế không đơn thuần là một mốc thời gian. Đó là một cuộc hẹn với lịch sử.
Đại hội XIV của Đảng đã xác lập đích đến của cuộc hành trình ấy. Đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Nhìn từ Nghị quyết Đại hội và những quyết sách chiến lược của Bộ Chính trị thời gian qua, một chuyển động lớn đang hiện lên: Việt Nam đang từng bước kiến tạo một kiến trúc phát triển mới để biến khát vọng thành năng lực và biến năng lực thành hiện thực.

Một kiến trúc phát triển đúng mới tạo ra khả năng phát triển. Để khả năng ấy trở thành hiện thực còn cần một điều quyết định: Năng lực thực thi
Khát vọng 2045 đòi hỏi một phương thức phát triển mới
Khát vọng lớn luôn đặt ra yêu cầu lớn về năng lực. Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045 không đơn giản là yêu cầu nền kinh tế tăng trưởng nhanh hơn. Việt Nam phải chuyển sang một quỹ đạo phát triển cao hơn.
Những động lực đã làm nên thành công của nhiều thập niên qua vẫn còn giá trị, nhưng dư địa đang thu hẹp. Lao động giá rẻ không thể mãi là lợi thế; tài nguyên và đất đai là hữu hạn; gia tăng vốn đầu tư có giới hạn; thu hút FDI sẽ không đủ nếu doanh nghiệp Việt Nam không vươn lên những khâu có giá trị gia tăng cao.
Muốn trở thành nước thu nhập cao, Việt Nam phải chuyển từ lợi thế chi phí thấp sang năng suất cao, từ khai thác nguồn lực sẵn có sang kiến tạo nguồn lực mới, từ tiếp nhận công nghệ sang từng bước làm chủ và sáng tạo công nghệ.
Bởi vậy, Đại hội XIV xác định yêu cầu hình thành mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; thúc đẩy các chuyển đổi lớn về số, xanh, năng lượng và nguồn nhân lực; đồng thời tiếp tục ba đột phá chiến lược về thể chế, nhân lực và hạ tầng.
Việt Nam không chỉ cần chạy nhanh hơn trên con đường cũ; Việt Nam phải mở ra những con đường phát triển mới. Nếu Đại hội XIV đã xác định chúng ta muốn đi đâu và phát triển bằng phương thức nào, câu hỏi tiếp theo là: đất nước phải xây dựng những năng lực gì để đi tới đích? Các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị chính là những câu trả lời.
Những trụ cột của một kiến trúc phát triển mới
Mỗi nghị quyết giải quyết một bài toán cụ thể. Nhưng đặt cạnh nhau, chúng cho thấy một logic lớn hơn: mỗi nghị quyết đang góp phần kiến tạo một năng lực phát triển quốc gia.
Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia trả lời câu hỏi về động lực tăng trưởng mới. Việt Nam phải ngày càng dựa vào tri thức, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và chất lượng con người. Trong nền kinh tế mới, tài nguyên quý giá nhất của Việt Nam ngày càng không nằm dưới lòng đất mà nằm trong trí tuệ của người Việt Nam.
Nghị quyết 59 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới mở rộng không gian phát triển. Hội nhập không thể chỉ được đo bằng xuất khẩu, FDI hay số lượng hiệp định thương mại. Quan trọng hơn là Việt Nam tham gia vào đâu trong chuỗi giá trị, làm chủ được bao nhiêu công nghệ, kết nối được bao nhiêu nguồn tri thức và nâng vị thế quốc gia đến đâu. Hội nhập thành công không phải là phụ thuộc nhiều hơn vào thế giới, mà là mạnh lên nhờ kết nối với thế giới.
Nghị quyết 66 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật kiến tạo năng lực thể chế. Pháp luật không chỉ phải bảo đảm trật tự, kỷ cương mà còn phải giải phóng nguồn lực, bảo vệ quyền, giảm chi phí và mở không gian cho đổi mới sáng tạo. Thể chế tốt không trực tiếp tạo ra của cải, nhưng quyết định hàng triệu con người có đủ tự do, niềm tin và động lực để tạo ra của cải hay không.
Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân xác lập một chủ thể đặc biệt quan trọng của phát triển khi khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Đằng sau đó là một triết lý lớn: nguồn lực phát triển không chỉ nằm trong ngân sách nhà nước mà còn nằm trong sức sáng tạo của toàn xã hội.
Đi cùng với đó, Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước định vị vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm những nguồn lực, kết cấu hạ tầng và năng lực chiến lược của quốc gia. Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79 vì thế không đối lập mà bổ trợ cho nhau: một nền kinh tế mạnh cần một thị trường năng động và một Nhà nước có năng lực chiến lược.
Và cuối cùng, tất cả thể chế, công nghệ, doanh nghiệp và nguồn lực đều do con người vận hành. Nghị quyết 80 về phát triển văn hóa Việt Nam bổ sung nền tảng sâu xa của kiến trúc mới: văn hóa và con người. Một quốc gia thu nhập cao phải được xây dựng bởi những con người có năng lực cao, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và khát vọng vươn lên.
Điều đáng chú ý nhất chính là sự liên kết giữa các nghị quyết. Nghị quyết 57 cần không gian thể chế mà Nghị quyết 66 mở ra; Nghị quyết 68 cần công nghệ của Nghị quyết 57 và không gian toàn cầu của Nghị quyết 59; Nghị quyết 79 tạo những năng lực chiến lược mà thị trường khó tự bảo đảm; và tất cả đều dựa trên nền tảng văn hóa, con người.
Giá trị lớn nhất vì thế không chỉ nằm trong từng nghị quyết, mà nằm trong sự cộng hưởng giữa các nghị quyết. Chính sự cộng hưởng ấy đang từng bước tạo hình cho một kiến trúc phát triển mới của Việt Nam.
Từ kiến trúc chính sách đến kiến trúc thực thi
Một kiến trúc phát triển đúng mới tạo ra khả năng phát triển. Để khả năng ấy trở thành hiện thực, còn cần một điều quyết định: năng lực thực thi.
Đây có lẽ là thách thức lớn nhất của giai đoạn tới. Việt Nam không thiếu những chủ trương đúng, những chiến lược có tầm nhìn hay những chương trình đầy tham vọng. Nhưng giữa một nghị quyết và sự thay đổi trong cuộc sống luôn tồn tại một khoảng cách. Khoảng cách ấy chỉ có thể được lấp đầy bằng tổ chức thực hiện.
Tinh thần xuyên suốt sau Đại hội XIV là chuyển mạnh từ tư duy ban hành chính sách sang quản trị thực thi, lấy kết quả làm thước đo. Một nghị quyết không hoàn thành sứ mệnh khi văn bản hướng dẫn đã được ban hành hay kế hoạch triển khai đã được xây dựng. Nó chỉ thực sự hoàn thành sứ mệnh khi những thay đổi mà nghị quyết hướng tới xuất hiện trong đời sống.
Nghị quyết 57, chẳng hạn, cuối cùng phải được đo bằng năng suất, bằng công nghệ được làm chủ, bằng những doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và những sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Nghị quyết 68 phải được nhìn thấy qua số doanh nghiệp lớn lên, chi phí kinh doanh giảm xuống và những doanh nghiệp Việt Nam đủ sức cạnh tranh toàn cầu. Nghị quyết 66 phải thể hiện ở một môi trường pháp lý minh bạch hơn, ổn định hơn, ít rào cản hơn. Nghị quyết 80 phải chuyển hóa thành con người, môi trường văn hóa và sức mạnh tinh thần của xã hội.
Điều đó đòi hỏi những chuyển đổi rất căn bản trong quản trị: từ quản lý theo quy trình sang quản trị theo kết quả; từ tập trung quyền quyết định sang phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm; từ đánh giá nỗ lực sang đánh giá sản phẩm và tác động; từ mỗi cơ quan hoàn thành phần việc của mình sang cùng chịu trách nhiệm về một kết quả phát triển chung.
Quan trọng hơn, năng lực thực thi phải được thiết kế ngay trong quyết sách. Mỗi chính sách lớn ngay từ đầu phải trả lời được những câu hỏi rất cụ thể: Ai làm? Được trao quyền gì? Nguồn lực ở đâu? Kết quả cần đạt là gì? Bao giờ hoàn thành? Đo lường bằng cách nào? Và ai chịu trách nhiệm nếu kết quả không đạt?
Cũng như các nghị quyết chiến lược không tồn tại biệt lập, việc thực thi chúng không thể diễn ra trong những “ốc đảo hành chính”. Đổi mới sáng tạo liên quan đến giáo dục, tài chính, pháp luật, doanh nghiệp và thị trường. Phát triển kinh tế tư nhân liên quan đến đất đai, tín dụng, khoa học-công nghệ, thủ tục hành chính và hội nhập. Những bài toán phát triển ngày càng mang tính liên ngành trong khi bộ máy nhà nước về cơ bản vẫn được tổ chức theo ngành. Bởi vậy, sự tích hợp trong tư duy chính sách phải được tiếp nối bằng sự phối hợp trong quản trị thực thi.
Nếu thể chế là bản thiết kế của phát triển, thì năng lực thực thi chính là năng lực biến bản thiết kế ấy thành công trình. Thành công của giai đoạn mới cuối cùng sẽ không chỉ được đánh giá bằng việc chúng ta đã ban hành bao nhiêu quyết sách lớn, mà bằng việc bao nhiêu quyết sách lớn đã tạo ra những thay đổi lớn cho đất nước.
Để mỗi người dân nhìn thấy mình trong khát vọng 2045
Nhưng ngay cả tăng trưởng cao, công nghệ hiện đại hay những doanh nghiệp tầm cỡ quốc tế cũng chưa phải đích đến cuối cùng của phát triển. Đích đến cuối cùng vẫn là con người.
Một quốc gia phát triển phải là nơi người dân cảm nhận được sự phát triển trong chính cuộc sống của mình. Bởi vậy, khát vọng 2045 phải được chuyển hóa từ những mục tiêu vĩ mô thành những cơ hội rất cụ thể cho hàng triệu con người.
Với một người trẻ, một Việt Nam phát triển phải là nơi có thể tìm được việc làm tốt, phát huy tài năng, có cơ hội an cư, lập nghiệp và xây dựng gia đình. Với một doanh nhân, đó phải là nơi quyền tự do kinh doanh và quyền tài sản được bảo đảm, cạnh tranh công bằng và một ý tưởng tốt có cơ hội trở thành một doanh nghiệp lớn.
Với nhà khoa học và người tài, đó phải là môi trường mà năng lực được trọng dụng, sáng tạo được khuyến khích và cống hiến được ghi nhận. Với người lao động, năng suất cao hơn phải chuyển hóa thành thu nhập và chất lượng sống cao hơn. Với mọi người dân, phát triển phải được cảm nhận qua giáo dục tốt hơn, y tế tốt hơn, môi trường trong lành hơn, giao thông thuận tiện hơn, dịch vụ công thân thiện hơn và một xã hội an toàn, nhân văn hơn.
Đó cũng là lý do tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, con người phải đi cùng nhau. Một đất nước giàu lên nhưng con người bất an hơn, cơ hội bị thu hẹp hơn hay niềm tin suy giảm thì chưa thể coi là phát triển trọn vẹn.
Quan trọng hơn, khi người dân nhìn thấy tương lai của mình trong tương lai của đất nước, khát vọng quốc gia sẽ không còn chỉ là khát vọng của Nhà nước. Nó trở thành khát vọng của doanh nhân muốn xây dựng doanh nghiệp lớn, của nhà khoa học muốn tạo ra công nghệ mới, của người trẻ muốn lập nghiệp và của hàng triệu người lao động muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Khát vọng quốc gia chỉ trở thành sức mạnh vật chất khi gặp được khát vọng của từng con người. Và chính sự gặp gỡ ấy mới có thể biến hành trình tới 2045 thành một dự án chung của cả dân tộc.
Cuộc hẹn với năm 2045
Ngày 2/9/1945, dân tộc Việt Nam đã trả lời một câu hỏi lớn của lịch sử: Chúng ta có quyền tự quyết định vận mệnh của mình hay không? Câu trả lời là độc lập.
Một thế kỷ sau, năm 2045 sẽ đặt trước chúng ta một câu hỏi khác: Chúng ta có đủ trí tuệ, thể chế và năng lực để kiến tạo một quốc gia phát triển, phồn vinh và hạnh phúc hay không? Nghị quyết Đại hội XIV đã xác lập tầm nhìn và những lựa chọn chiến lược lớn. Các nghị quyết 57, 59, 66, 68, 79, 80 cùng những quyết sách quan trọng khác đang từng bước kiến tạo các động lực, thể chế và năng lực cần thiết cho hành trình ấy.
Một kiến trúc phát triển mới đang dần hiện rõ. Nhưng kiến trúc chỉ có ý nghĩa khi trở thành hiện thực. Công việc lớn nhất từ đây là kết nối những quyết sách ấy thành hành động, biến hành động thành kết quả và biến kết quả phát triển thành cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân.
Từ mùa Thu độc lập năm 1945 đến khát vọng phồn vinh năm 2045 là hành trình một thế kỷ. Nếu độc lập trao cho chúng ta quyền tự quyết định vận mệnh, thì phát triển phải trao cho chúng ta năng lực hiện thực hóa quyền tự quyết ấy.
Năm 1945, Việt Nam giành lại quyền tự quyết định vận mệnh của mình. Năm 2045, thành tựu xứng đáng nhất cho một thế kỷ độc lập sẽ là một Việt Nam đủ năng lực kiến tạo vận mệnh và phồn vinh của chính mình.
Bài 3: Cuộc tăng tốc 10% và bài toán sức bật mới của Việt Nam


