Công tác Dân tộc
Giải "bài toán" đưa nước sinh hoạt về miền núi: Lời giải nguồn nước ở Tây Nguyên (Bài 3)
Việc tìm kiếm nguồn nước ổn định là yếu tố then chốt để công trình cấp nước sau đầu tư không rơi vào tình trạng “có nước mùa mưa, thiếu nước mùa khô” ở khu vực Tây Nguyên.
LỜI TÒA SOẠN
Nước sinh hoạt là nhu cầu thiết yếu của mỗi gia đình, nhưng tại nhiều vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, những hạn chế về điều kiện tự nhiên, hạ tầng và công tác quản lý, vận hành khiến bao năm nay, vào mùa khô, bài toán nước sinh hoạt vẫn luôn là nỗi lo thường trực.
Báo VietNamNet trân trọng gửi tới bạn đọc tuyến bài: “Giải ‘bài toán’ đưa nước sinh hoạt về miền núi”, phản ánh thực trạng, những khó khăn trong việc bảo đảm nguồn nước sinh hoạt và những vấn đề đặt ra từ thực tế, qua đó góp thêm góc nhìn về các giải pháp để người dân vùng miền núi được tiếp cận nguồn nước sạch, ổn định và bền vững.
.jpg)
Lo ngại chất lượng nguồn nước sử dụng
Thôn Krong Đuân, xã đặc biệt khó khăn Đăk Pxi, tỉnh Quảng Ngãi đã từng được đầu tư công trình nước tự chảy để phục vụ cho hơn 260 hộ đồng bào Xơ Đăng.
Tuy nhiên, sau thời gian dài sử dụng, công trình đã xuống cấp. Cùng với việc dòng chảy ở khe suối thay đổi, lượng nước dẫn về ngày càng ít, không đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người dân, nhất là vào mùa khô.

Chị Y Chính, thôn Krong Đuân, xã Đăk Pxi, cho biết: Vào mùa khô thì không có nước. Để có nước phục vụ việc tắm giặt, phải lấy nước từ mương thủy lợi dọc theo ruộng lúa. Riêng nước uống và nấu ăn phải đi xin ở các hộ có nước giếng. Mỗi ngày, đi xin nước 4 đến 5 lần mới đủ dùng.
“Gia đình đã đào giếng ở nhiều vị trí nhưng đều gặp đá. Muốn khoan giếng cần chi phí lớn nên tôi không đủ tiền thuê người ta làm”, chị Y Chính chia sẻ.
Không chỉ thiếu nước vào mùa khô, người dân còn lo ngại về chất lượng nguồn nước đang sử dụng. Bởi, nhiều hộ canh tác nương rẫy ở khu vực đầu nguồn thường sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, nguy cơ thuốc thẩm thấu vào đất và theo dòng nước rất cao.

Theo ông A Xim, Trưởng thôn Krong Đuân, xã Đăk Pxi, thôn chưa có hệ thống nước sạch tập trung và có hơn 50 hộ dân thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Công trình cũ lấy nước từ khe suối, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn.
Công trình cấp nước sinh hoạt với công nghệ lạc hậu
Không chỉ những công trình cấp nước tự chảy bị xuống cấp, hiện nay, ở tỉnh Quảng Ngãi có một số công trình cấp nước tập trung được đầu tư đã lâu, xuống cấp, công nghệ lạc hậu, nhưng vẫn phải vận hành để cấp nước cho người dân sử dụng.

Đơn cử, hệ thống cấp nước tự chảy tại xã Đăk Rve, tỉnh Quảng Ngãi được đầu tư từ 1997, nước được dẫn từ suối thượng nguồn về bể lọc xử lý, sau đó cấp cho khoảng 4.000 hộ dân sử dụng có thu phí.
Tuy nhiên, công trình đã xuống cấp, nước từ hệ thống này thường xuyên đục, đặc biệt sau mưa lớn.
Bà Lưu Thị Thùy Phi, Thôn 1, xã Đăk Rve, tỉnh Quảng Ngãi, cho biết: Nước đục xuất hiện nhiều thời điểm, gia đình phải tự mua hệ thống lọc sơ mới dám sử dụng vì lo ngại ảnh hưởng sức khỏe. Mong Nhà nước sớm đầu tư hệ thống nước sạch để người dân được dùng, bảo đảm sức khỏe.

Mặc dù đơn vị vận hành đã triển khai nhiều biện pháp khắc phục tạm thời, như: Tăng cường lắng lọc, vệ sinh bể chứa, song tình trạng nước đục vẫn tái diễn liên tục, đặc biệt sau mỗi trận mưa lớn.
Ông Lê Duy Mạnh, Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm dịch vụ công ích xã Đăk Rve, tỉnh Quảng Ngãi, cho biết: Nguồn nước lấy từ thượng nguồn, khi mưa lớn đất trôi xuống khiến nước đục. Trung tâm đã tăng cường lắng, lọc để xử lý, nhưng công trình xuống cấp nên xử lý không hiệu quả, nguồn nước còn đục.
“Trước tình hình trên, UBND xã đã có văn bản kiến nghị UBND tỉnh Quảng Ngãi đầu tư hệ thống cấp nước sinh hoạt mới”, ông Mạnh cho biết thêm.
Cần lời giải “bài toán” về nguồn nước
Tây Nguyên sở hữu tiềm năng nước lớn nhưng liên tục đối mặt với khô hạn, ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước ngầm do phân bố không đều, khai thác quá mức và biến đổi khí hậu.
Điểm cốt lõi của vấn đề nằm ở sự phân bố nước không đồng đều theo thời gian, khoảng 80 - 90% lượng mưa và dòng chảy tập trung chỉ trong 6 tháng mùa mưa, còn 6 tháng mùa khô chỉ chiếm 10 - 15% tổng lượng nước cả năm. Tây Nguyên luôn rơi vào tình trạng "thừa nước mùa mưa, thiếu nước khô”.
Cũng chính vì vậy, một số công trình nước tự chảy được đầu tư phục vụ cho vùng đồng bào DTTS ở Tây Nguyên chưa thực sự phát huy hiệu quả vào mùa khô.

Ông Phan Văn Cường, Chủ tịch UBND xã Đăk Pxi, tỉnh Quảng Ngãi, cho biết: Trước đây, xã đã đầu tư hệ thống dẫn nước từ khe suối về phục vụ nhu cầu sinh hoạt cho hơn 260 hộ dân ở thôn Krông Đuân. Tuy nhiên, sau nhiều năm sử dụng, công trình không còn bảo đảm hiệu quả.
"Bên cạnh đó, nguồn nước hiện nay cũng hạn chế hơn trước, dẫn đến tình trạng thiếu nước cục bộ vào mùa khô ở một số khu vực chứ không riêng thôn Krông Đuân", ông Cường cho biết thêm.
Cùng với việc phân bổ nguồn nước không đều trong năm, tình trạng suy giảm nguồn nước do biến đổi khí hậu, mất rừng đầu nguồn, khai thác nước ngầm quá mức cho nông nghiệp, ô nhiễm nguồn nước… cũng đặt ra "bài toán" đối với ngành chức năng và chính quyền địa phương khi đầu tư các công trình nước sinh hoạt trong những năm tới.
Ông Phan Chí Thiện, Chủ tịch UBND xã Ya Ly, tỉnh Quảng Ngãi, cho biết: Ở góc độ chính quyền địa phương mong muốn, trong những năm tới, khi đầu tư các công trình cấp nước sinh hoạt cho vùng đồng bào DTTS cần có mức đầu tư lớn hơn. Trong đó, việc khảo sát tìm nguồn nước bền vững là yếu tố then chốt. Bởi nguồn nước ổn định, thì công trình mới phát huy hiệu quả.

Đối với địa bàn Tây Nguyên, hiện nay, việc cấp nước cho đồng bào DTTS không chỉ còn là vấn đề đầu tư công trình, mà quan trọng hơn, là việc tìm kiếm nguồn nước ổn định để các công trình khi được đầu tư phát huy được hiệu quả lâu dài, tránh lặp lại tình trạng công trình khi đầu tư xong “có nước vào mùa mưa, thiếu nước vào mùa khô”.
-06e8c6e21d2d6757a40ded5d562c39f1.jpg)
