Công tác Dân tộc

Công tác Dân tộc

Sản phẩm từ tri thức dân gian, văn hóa truyền thống cần được khai thác đúng cách

Hoàng Quý 25/07/2026 13:15

Từ ngôi nhà trình tường, lễ hội, bài thuốc tắm lá đến tấm thổ cẩm, nhiều giá trị của bản làng vùng cao đã và đang bước vào thị trường du lịch và công nghiệp văn hóa. Được khai thác đúng cách, văn hóa không chỉ được bảo tồn mà còn tạo sinh kế, nâng thu nhập ngay tại quê hương.

z7995605342529_752b34c84f0ce8399668cea2dcfc5c9c.jpg
Ẩm thực bản địa góp phần làm phong phú sản phẩm du lịch và tạo thêm thu nhập cho người dân tộc thiểu số. Ảnh: Trần Nhâm

Sinh kế bắt đầu từ điều riêng có

Đến với thôn Nặm Đăm, xã Quản Bạ, tỉnh Tuyên Quang, du khách được ở trong những ngôi nhà trình tường của người Dao, thưởng thức món ăn do chủ nhà chế biến, tắm lá thuốc, xem văn nghệ dân gian, làm nông và tham gia lễ hội bắt cá. Mỗi dịch vụ là một phần đời sống văn hóa được chuyển thành giá trị kinh tế.

Thôn Nặm Đăm có gần 70 hộ dân, trong đó có 34 hộ làm dịch vụ homestay. Riêng 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu du lịch của thôn đạt gần 3 tỷ đồng. Ngoài các hộ lưu trú, người trồng rau, nấu ăn, làm hướng dẫn, biểu diễn văn nghệ và cung cấp dược liệu đều có thể tham gia chuỗi dịch vụ.

Để phục vụ khách du lịch đến Nậm Đăm, ông Lý Đại Thông - một trong những người dân đã tiên phong thành lập hai nhóm văn nghệ, bao gồm nhóm người lớn biểu diễn, tham gia nghi lễ và nhóm trẻ để truyền dạy. Mỗi buổi biểu diễn 5 tiết mục tại các homestay, 10 thành viên được trả một triệu đồng, chưa tính tiền du khách tặng.

Du khách đến Nặm Đăm không chỉ tìm nơi nghỉ mà muốn sống trong không gian văn hóa đặc trưng của người Dao. Sản phẩm ở đây không dựa vào một tiết mục đơn lẻ. Kiến trúc, ẩm thực, dược liệu, cảnh quan và lễ hội bổ trợ cho nhau.

Nhờ những đặc trưng đó, năm 2023, Nặm Đăm nhận giải thưởng ASEAN về du lịch cộng đồng, cho thấy bản sắc có thể trở thành lợi thế khi cộng đồng cùng tham gia.

Theo Báo cáo số 812/BC-BDTTG ngày 31/3/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, giai đoạn 2021 - 2025, Chương trình mục tiêu quốc gia 1719 đã hỗ trợ xây dựng 69 điểm du lịch truyền thống, đầu tư 3.220 nhà văn hóa - khu thể thao và bảo tồn 124 lễ hội.

Chương trình cũng hỗ trợ 695 câu lạc bộ văn hóa dân gian, 5.760 đội văn nghệ truyền thống; bồi dưỡng chuyên môn, truyền dạy văn hóa phi vật thể cho hơn 16.000 lượt người.

Những con số phản ánh sự thay đổi trong tư duy, văn hóa DTTS không chỉ là đối tượng cần cứu vãn, mà còn là nguồn vốn nội sinh. Nguồn vốn ấy bao gồm tri thức canh tác, chữa bệnh, chế biến món ăn, kỹ thuật thủ công, tiếng nói và ký ức cộng đồng.

Tại bản Poọng, xã Lâm Phú, tỉnh Thanh Hóa, câu lạc bộ dệt thổ cẩm của phụ nữ Thái đã đưa tiếng khung dệt trở lại nhiều gia đình. Được tập huấn về thêu và dệt hoa văn trên trang phục truyền thống, các thành viên vừa sản xuất tập trung, vừa mang sản phẩm về nhà làm lúc nông nhàn.

Thu nhập của mỗi người làm nghề dệt tại bản Poọng đạt từ 2 - 4 triệu đồng/tháng trở lên. Công việc tại nhà giúp phụ nữ kết hợp chăm sóc gia đình và sản xuất nông nghiệp. Chủ nhiệm câu lạc bộ Lương Thị Biên kỳ vọng, sản phẩm thổ cẩm Thái có thể vươn ra thị trường bên ngoài.

z7935591455774_e20106ca313783127f417d94046199b9.jpg
Những tri thức được trao truyền qua nhiều thế hệ đang từng bước trở thành nguồn lực sinh kế. Ảnh: Trần Nhâm

Từ “trình diễn” đến chuỗi giá trị

Tổ chức một đội văn nghệ hoặc mở điểm bán hàng lưu niệm chưa đủ tạo ra sinh kế bền vững. Nếu khách chỉ đến chụp ảnh rồi rời đi, giá trị kinh tế để lại cho cộng đồng rất thấp. Thổ cẩm cần thích ứng với nhu cầu mới, nhưng chạy theo giá rẻ, sử dụng vải công nghiệp và họa tiết in sẵn sẽ làm mất lợi thế khác biệt.

Bài toán đặt ra là xây dựng chuỗi giá trị để người dân tham gia nhiều khâu: Sáng tạo, sản xuất, kể chuyện, bán hàng và quản lý điểm đến. Tấm thổ cẩm có thể trở thành túi, khăn hoặc đồ trang trí nhưng cần giữ kỹ thuật, hoa văn cốt lõi và ghi rõ người làm.

Bài thuốc tắm lá có thể phát triển thành dịch vụ chăm sóc sức khỏe, nhưng cộng đồng phải kiểm soát nguyên liệu, tri thức và cách sử dụng.

Một đêm văn nghệ chỉ tạo thù lao cho đội biểu diễn; một hệ sinh thái gồm homestay, hướng dẫn bản địa, ẩm thực, nông sản, thủ công và trải nghiệm mùa vụ sẽ phân phối thu nhập cho nhiều hộ hơn. Văn hóa khi đó không đứng riêng trên sân khấu mà thấm vào toàn bộ sản phẩm của điểm đến.

Thị trường cũng đặt ra rủi ro khi doanh nghiệp nắm khâu quảng bá và bán tour, trong khi người dân chỉ cung cấp lao động giá thấp; sản phẩm bị sao chép, lợi nhuận không trở lại với nghệ nhân. Nếu cộng đồng mất quyền quyết định, “nguồn lực văn hóa” có thể bị khai thác đến cạn kiệt.

Vì vậy, phát triển sản phẩm phải đi cùng bảo vệ tính xác thực. Một nghi lễ thiêng không thể tùy tiện tổ chức theo yêu cầu của đoàn khách. Một bài thuốc hay họa tiết truyền thống cũng không nên bị sử dụng, mà người nắm giữ tri thức không được ghi nhận và hưởng lợi.

735075611_122203069358781235_759775710147285682_n.jpg
Nghề dệt thổ cẩm không chỉ lưu giữ bản sắc mà còn mở ra cơ hội tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số. Ảnh: Trần Nhâm

Để người dân là chủ thể kinh tế

Nghị định số 269/2026/NĐ-CP của Chính phủ đã đặt ra yêu cầu, bảo đảm cộng đồng được thụ hưởng từ việc khai thác văn hóa truyền thống; khuyến khích tổ, nhóm, tổ hợp tác, hợp tác xã và cộng đồng dân cư tham gia quản lý du lịch.

Nghị định quy định chủ thể văn hóa nòng cốt trực tiếp thực hành, trao truyền được hỗ trợ 400.000 đồng/người/buổi; chủ thể kế cận được hỗ trợ 300.000 đồng/người/buổi, tối đa 20 buổi cho một chương trình trong phạm vi dự toán được giao.

Khoản hỗ trợ là cần thiết nhưng không thể thay thế thị trường. Địa phương cần giúp cộng đồng phát triển sản phẩm; đào tạo kỹ năng thiết kế, định giá, vệ sinh, ngoại ngữ và quảng bá số; kết nối hợp tác xã với doanh nghiệp lữ hành, sàn thương mại điện tử.

Mỗi mô hình phải có quy chế chia sẻ lợi ích, trả công nghệ nhân và dành một phần doanh thu cho hoạt động truyền dạy.

Muốn văn hóa truyền thống được bảo tồn đúng nghĩa, cộng đồng phải có quyền tham gia thực chất. Chỉ khi chủ thể văn hóa được quyết định và hưởng lợi công bằng, bảo tồn mới có thể gắn với sinh kế bền vững.

Văn hóa truyền thống không phải “mỏ tài nguyên” vô tận để khai thác, cũng không phải hiện vật chỉ để trưng bày. Đó là nguồn vốn sống, chỉ sinh lời lâu dài khi được cộng đồng tiếp tục thực hành, sáng tạo và truyền lại.

Khi người dân có thể sống bằng nghề dệt, tri thức dược liệu, ẩm thực, kiến trúc và câu chuyện của dân tộc mình, bảo tồn không còn là nhiệm vụ đứng ngoài đời sống mà trở thành lựa chọn kinh tế có giá trị.

Hoàng Quý