Tín ngưỡng tôn giáo
Linh thiêng ngôi đền không cổng, có báu vật kiệu vàng giấu dưới lớp sơn 400 năm
Đền Mõ không chỉ nổi tiếng với huyền tích về vị công chúa nhà Trần từ bỏ chốn cung đình để dạy dân trồng dâu nuôi tằm, mà còn bởi kiến trúc “không cổng” độc lạ cùng cây gạo di sản 743 năm tuổi dáng “mẹ bồng con” và những câu chuyện đậm tính tâm linh.

Huyền tích công chúa Quỳnh Chân và “cụ gạo” 743 tuổi mang dáng “mẹ bồng con”
Tình cờ tới thăm đền Mõ (xã Nghi Dương, TP. Hải Phòng), chúng tôi được ông Nguyễn Công Trai - Trưởng ban Khánh tiết của đền, kể cho nghe nhiều câu chuyện huyền tích, tâm linh ở ngôi đền cổ thường được người dân nhắc đến với sự thành kính.
Theo sử liệu và truyền thuyết địa phương, đền Mõ là nơi phụng thờ công chúa Quỳnh Trân - con gái vua Trần Thánh Tông, chị gái của vua Trần Nhân Tông. Từ bỏ chốn kinh đô phồn hoa, bà tìm về vùng đất Nghi Dương (thuộc phủ Kinh môn xưa) lập am tu hành.
Không chỉ chuyên tâm kinh kệ, công chúa còn hướng dẫn nhân dân khai hoang, làm ruộng, trồng dâu nuôi tằm. Bà từng mở kho phát lương thực, cấp may quần áo cho người nghèo đói, đồng thời sát cánh cùng các anh em nhà Trần đánh đuổi quân xâm lược trên sông Bạch Đằng.

Ngọc phả Quỳnh Trân công chúa Triều Trần ghi: “Công chúa tuy ở chốn cửa thiền nhưng nhiều năm chăm nghiệp lớn nông trang, vì thế điền sản ngày một nhiều, nô bộc ngày càng đông, việc trông nom cai quản khó biết đầy đủ. Công chúa bèn dựng một cái quán ở cạnh ấp, bảo nô bộc rằng: Các ngươi nghe hiệu lệnh của ta bằng tiếng mõ để đi làm về nghỉ. Nếu trong ngày hễ có tiếng mõ ở chùa thì về ăn uống, nếu nghe tiếng mõ ở quán thì có công việc. Nô bộc vâng lệnh, hàng ngày cứ theo lệnh mà làm”.
Các địa danh Ấp Mõ, chùa Mõ, đền Mõ… hình thành từ đó.


Sau khi công chúa Quỳnh Trân qua đời, người dân địa phương đã xin sắc phong và lập đền tưởng nhớ công ơn to lớn của bà.
“Nhân chứng sống” gắn liền với huyền tích Quỳnh Trân công chúa là “cụ gạo” đại thụ nằm ngay trong khuôn viên đền Mõ. Tương truyền, cây gạo được chính tay công chúa Quỳnh Trân trồng vào năm 1284 với mong nguyện nhân dân có cuộc sống cơm no áo ấm. Đến nay, cây gạo đã 743 năm tuổi và được công nhận là Cây di sản.

Ông Nguyễn Đình Hóa - một người từ nhỏ đã phụ giúp gia đình bán hàng nước ở gần khu vực đền, cho biết bản thân đã chứng kiến nhiều trận bão lớn quật ngã cây cối quanh vùng nhưng cây gạo vẫn sừng sững đứng đó, cành cây có gãy cũng không bao giờ đổ chạm vào mái đình.


Đền Mõ hiện đang sở hữu 2 cây di sản gồm “cụ gạo” 743 năm tuổi và một cây nhãn cổ thụ tuổi đời trên 500 năm. Hai cây cổ thụ đứng hai bên không gian thờ tự, như hai chứng nhân lặng lẽ chứng kiến bao đổi thay của làng quê.
Đặc biệt, cụ gạo có một nhánh nhỏ tự nhiên mọc ra từ thân chính, tạo nên hình thế “mẹ bồng con” vô cùng độc đáo. Dáng cây linh thiêng ấy từ lâu đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho nhiều gia đình hiếm muộn từ khắp nơi tìm về cầu con, cầu cháu.
Kiến trúc “không cổng” kỳ lạ và báu vật kiệu Tứ Linh mạ vàng ta hơn 400 năm
Giữa nhịp sống hiện đại, đền Mõ vẫn giữ một khoảng lặng riêng, nơi lịch sử, tín ngưỡng và ký ức cộng đồng đan cài qua thời gian. Một trong những nét độc đáo khiến du khách ngạc nhiên khi đến thăm đền chính là công trình hoàn toàn không có cổng. Không gian đền không quá ngăn cách với đời sống bên ngoài, song vẫn giữ vẻ trang nghiêm, cổ kính.

Giải thích về nét kiến trúc đặc biệt này, ông Nguyễn Đình Hóa cho hay, theo quy tắc của các cụ thời xưa, đền thờ các quan ngày tuần đi canh trực thì tuyệt đối không được dựng cổng.
Dù từng có thời điểm người dân dự định đóng góp hàng trăm triệu đồng để làm cổng đền nhưng không được ngành văn hóa chấp thuận, nhằm giữ vẹn nguyên quy chuẩn kiến trúc cổ truyền.

Năm 1935, đền Mõ được ông Bang Thiếu hưng công xây dựng lại. Đến năm 1992, đền Mõ chính thức được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia.
Trước đây, đền Mõ từng có nhiều đồ cổ, từ bát hương, lục bình đến các vật dụng thờ tự, nhưng nhiều hiện vật bị thất lạc do chiến tranh hoặc công tác bảo quản chưa được chú trọng.
Hiện đền Mõ còn lưu giữ được một số hiện vật quý như bộ kiệu Tứ Linh quý hiếm có với trên 400 năm tuổi cùng nhiều thanh đao cổ...



“Đặc biệt là bộ kiệu Tứ Linh. Trong những lần tu bổ gần đây, các hiện vật được xác định là đồ cổ không được sơn mới. Lớp sơn bên ngoài theo thời gian bong tróc, lớp vàng ta nguyên bản mới phát lộ trước sự ngỡ ngàng của người dân”, ông Trai nhấn mạnh.
Để bảo vệ những báu vật vô giá từng được gìn giữ qua nhiều thế hệ, ban quản lý đền đã bố trí 16 Camera an ninh cùng lực lượng bảo vệ túc trực ngày đêm.
Ước nguyện bảo tồn di tích lịch sử văn hóa quốc gia
Hàng năm, từ ngày 12 đến ngày 14 tháng Chạp âm lịch, đền Mõ lại tưng bừng bước vào mùa lễ hội lớn. Đây là dịp hội tụ của "Ngũ phúc" (5 ngôi đình) từ các thôn trong vùng (sau sáp nhập địa giới hành chính mới đây thì tăng thêm 2 ngôi đình làng thành 7 ngôi đình).
Vào ngày hội, các đoàn trai gái làng rước long đình, bát biểu và kiệu thần hoàng từ các đình xếp thành hàng dài hướng về đền Mõ để chầu công chúa.
Trong 3 ngày hội, không gian đền Mõ rộn rã với các trò chơi dân gian như kéo co, chọi gà… và những hoạt động diễn xướng như hát chèo, hát quan họ trên thuyền rồng...

Gắn bó nhiều năm với công tác trông coi di tích, ông Nguyễn Công Trai, xúc động chia sẻ: "Bà công chúa Quỳnh Trân rất linh thiêng. Người dân và khách thập phương đến đền thường cầu phúc, cầu lộc, cầu tài, cầu sức khỏe. Nhiều người ở tận Nghệ An, Hà Tĩnh hay miền Nam dù chưa biết chính xác đền Mõ nằm ở đâu, nhưng vẫn tìm được đường về theo những câu chuyện tâm linh mà họ tin tưởng".

Những câu chuyện ấy khó có thể kiểm chứng bằng lý giải khoa học, nhưng trong đời sống tinh thần của người dân, chúng tạo nên một lớp ký ức đặc biệt, góp phần làm nên vẻ linh thiêng của ngôi đền cổ.
Gần đây, một số nghi thức từng có thời gian bị xem là mê tín cũng dần trở lại trong đời sống văn hóa tại đền Mõ, chẳng hạn như thực hành nghi lễ hầu Thánh.


Điều ông Trai trăn trở nhất lúc này là làm sao vừa tu bổ để đền ngày càng khang trang, vừa giữ được những giá trị cổ xưa. Nguồn lực tu bổ hiện chủ yếu đến từ những người con xa quê và khách thập phương. Những công trình phục vụ du khách như khu vệ sinh, hội trường… cũng đang được hoàn thiện từ nguồn đóng góp ấy.
Nhiều thế kỷ đã trôi qua, đền Mõ không chỉ là một địa chỉ tín ngưỡng dân gian. Với nhiều người, nơi đây giống như một không gian để gửi gắm những mong ước rất đời thường: một mái nhà bình an, những đứa trẻ khỏe mạnh, cuộc sống đủ đầy.
Giữa một thế giới đang thay đổi từng ngày, nơi đây vẫn giữ được một điều giản dị mà quý giá: Ký ức của một cộng đồng về người đã đến, đã giúp dân, rồi ở lại trong lòng đất và lòng người.


