Bàn tròn chính sách
Hoàn thiện thể chế về công tác dân tộc trong giai đoạn mới (Bài cuối)
Yêu cầu phát triển mới đòi hỏi hoàn thiện thể chế công tác dân tộc, khắc phục phân tán chính sách, chồng chéo trách nhiệm, khơi thông nguồn lực và phát huy nội lực vùng đồng bào DTTS và miền núi.
LỜI TÒA SOẠN:
Sau hơn 15 năm (2011-2026) thực thi Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc, diện mạo vùng đồng bào DTTS và miền núi đã có bước chuyển mình mạnh mẽ. Nhưng sự
phân tán nguồn lực, “bẫy thủ tục’ đầu tư công, xung đột quy hoạch đất đai và những điểm nghẽn thể chế đang kìm hãm đà bứt phá, khiến khu vực này hiện vẫn là “lõi nghèo” của cả nước.Gắn với mục tiêu của Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045, tuyến bài “Cởi trói” thể chế trong thực hiện chính sách dân tộc” của Báo VietNamNet mổ xẻ những nghịch lý cốt lõi, qua đó đề xuất giải pháp kiến tạo thể chế để vùng đồng bào DTTS và miền núi có lực và đủ lực vươn mình trong kỷ nguyên mới.
Bài 1: Dòng tiền nghìn tỷ và "chiếc áo chật" đầu tư công
Bài 2: Khi thể chế khóa giá trị đất, rừng
Bài 3: Khoảng trống phía sau cổng trường, trạm xá
Đi qua chặng đường hơn 15 năm, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP (NĐ 05) đã hoàn thành sứ mệnh là văn bản pháp lý cao nhất về lĩnh vực công tác dân tộc. Với yêu cầu phân cấp, phần quyền triệt để trong chính quyền địa phương hai cấp, việc thực hiện chính sách dân tộc trong giai đoạn tới cần một “kim chỉ nam” mới để bảo đảm hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
Đây cũng là yêu cầu tiến tới xây dựng một văn bản pháp lý cao hơn nghị định. Pháp điển hóa là “chìa khóa” giải quyết dứt điểm các vướng mắc, chồng chéo với các luật chuyên ngành khác, hoàn thiện cơ sở pháp lý, tập trung nguồn lực thực hiện chính sách dân tộc trong tình hình mới.

Từ đổi mới bộ máy đến đổi mới tư duy quản trị
Cả nước đã hoàn thành sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, mô hình chính quyền địa phương hai cấp chính thức đi vào vận hành từ ngày 1/7/2025. Hiệu quả của mô hình mới đã được chứng minh sau hơn 1 năm đi vào hoạt động.
Cuộc chuyển đổi lịch sử này đã giải thể 696 đơn vị hành chính cấp huyện, rút ngắn khoảng cách chỉ đạo, điều hành, đưa các dịch vụ công và chính sách an sinh đến gần hơn với người dân. Làn sóng chuyển đổi số quốc gia cũng đã “chạm” đến những bản làng xa xôi nhất.
Để nâng cao năng lực số cho người dân vùng đồng bào DTTS và miền núi, các bộ, ngành, địa phương đã tập trung triển khai Dự án hỗ trợ thông tin, tuyên truyền về dân tộc, tôn giáo theo Quyết định 219/QĐ-TTg, với kinh phí 280 tỷ đồng từ ngân sách Trung ương. Đồng thời, hỗ trợ nguồn lực từ Quỹ Dịch vụ viễn thông công ích để xóa các “vùng lõm sóng” di động; phủ sóng 4G/5G và cáp quang Internet đến hàng nghìn thôn, bản đặc biệt khó khăn.
(Báo cáo 3215/BC-BDTTG ngày 9/10/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo)
Theo Báo cáo 3215/BC-BDTTG ngày 9/10/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, hiện 100% trung tâm xã, phường vùng đồng bào DTTS và miền núi có mạng Internet cáp quang, trên 99% thôn, bản có sóng di động 4G/5G. Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) được ứng dụng trong công tác chỉ đạo, điều hành và thông tin, tuyên truyền.
Sự chuyển mình về hạ tầng và công nghệ là yếu tố then chốt để các tỉnh, thành phố nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Trong danh sách PCI năm 2025 được Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố tháng 5/2026, nhiều địa phương vùng đồng bào DTTS và miền núi đã “sánh vai” với các đô thị lớn.

Trong đó, Phú Thọ lọt vào “top" 5 địa phương có chỉ số PCI xếp loại “Tốt”; Lâm Đồng, Gia Lai, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Lào Cai nằm trong “top” 13 địa phương xếp loại “Khá”. Đây là các tỉnh thuộc vùng đồng bào DTTS và miền núi theo Quyết định 211/QĐ-BDTTG ngày 10/4/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
Những chuyển biến trên đang làm thay đổi không gian phát triển và phương thức quản trị ở vùng đồng bào DTTS và miền núi. Điều này đòi hỏi đổi mới tư duy thực hiện chính sách dân tộc, từ quản lý theo địa giới, phân bổ nguồn lực theo quy trình hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu, gắn trách nhiệm với kết quả và lấy người dân làm trung tâm.
“Trên đa tầng, dưới quá tải” và bài toán mới cho công tác dân tộc
Những điều chỉnh trong tư duy xây dựng, thực thi chính sách dân tộc đòi hỏi phải có văn bản pháp lý mới thay thế NĐ 05. Bởi theo đánh giá của Bộ Dân tộc và Tôn giáo trong Báo cáo 3215/BC-BDTTG ngày 9/10/2026, NĐ 05 mới dừng ở khung định hướng tổng quát, thiếu cơ chế quản trị tổng thể, các chính sách bị phân tán ở nhiều chương trình, dự án.
Hệ thống chính sách đa tầng, phân tán ở cấp vĩ mô, khi vận hành trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp với yêu cầu phân cấp, phân quyền mạnh, dễ tạo áp lực quá tải cho cơ sở. Trong khi đó, đội ngũ cán bộ ở các xã phần lớn kiêm nhiệm, dẫn đến lúng túng, hạn chế trong tổ chức thực hiện chính sách dân tộc.
Kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân tộc
Để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách dân tộc, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đề nghị Chính phủ chỉ đạo thống nhất cơ cấu tổ chức, số lượng đơn vị, định mức biên chế cơ quan làm công tác dân tộc cấp tỉnh, cấp xã trên toàn quốc; bố trí công chức chuyên trách phù hợp, đồng thời tăng cường tập huấn nghiệp vụ, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở.
(Báo cáo 3215/BC-BDTTG ngày 9/10/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo)
Dễ nhận thấy nhất là trong giải ngân vốn các Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG). Định mức biên chế chuyên trách công tác dân tộc ở cấp xã chưa được quy định thống nhất nên một công chức xã phải kiêm nhiệm hàng chục đầu việc, từ an sinh, văn hóa, thống kê dân số đến giải ngân vốn… dẫn đến chậm triển khai chính sách.
Đơn cử tại Gia Lai, kết quả giải ngân vốn Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi rất thấp. Tính đến ngày 25/9/2026, vốn chuyển nguồn giai đoạn 2021-2025 sang thực hiện năm 2026 mới đạt 46,73%; vốn giao mới giai đoạn 2026-2030 mới đạt 2,83%.
Đặc biệt Gia Lai có 14 xã chưa phát sinh giải ngân. Nguyên nhân chủ yếu do một số địa phương chưa chủ động triển khai các thủ tục theo quy định, chưa tổ chức thực hiện quyết liệt ngay sau khi được giao vốn.
Đây là những thông tin đáng chú ý trong văn bản số 856/TB-UBND ngày 25/9/2026 của Văn phòng UBND tỉnh Gia Lai, thông báo ý kiến chỉ đạo của ông Dương Mah Tiệp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh.
Trong văn bản, ông Tiệp yêu cầu các sở, ngành, địa phương nghiêm túc chấn chỉnh, nâng cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện; xem kết quả giải ngân là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ.
Hóa giải sự phân tán bằng một “nhạc trưởng” điều phối liên ngành
Tại Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019, Bộ Chính trị đã nhấn mạnh, công tác dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách. Kết luận yêu cầu hoàn thiện đồng bộ hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến đồng bào DTTS.
Từ năm 2021 đến nay, định hướng tại Kết luận số 65-KL/TW đã từng bước được cụ thể hóa. Nhất là sau khi Bộ Dân tộc và Tôn giáo được thành lập, nhiều quy định pháp quy về công tác dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc đã được nâng tầm lên thành nghị định.
Có thể kể đến như: Chính sách về người có uy tín được quy định tại Nghị định 307/2026/NĐ-CP; tiêu chí xác định vùng đồng bào DTTS và miền núi tại Nghị định số 272/2025/NĐ-CP; tiêu chí xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù tại Nghị định số 255/2025/NĐ-CP…

Ngoài ra, Quốc hội đã sửa đổi toàn diện Luật Đất đai, Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật... Trong khi đó, NĐ 05 không được cập nhật kịp thời, dẫn đến sự chồng lấn, giao thoa và mâu thuẫn giữa chính sách dân tộc với pháp luật chuyên ngành.
Trong Báo cáo 3215/BC-BDTTG ngày 9/10/2026, Bộ Dân tộc và Tôn giáo chỉ rõ, hạn chế nhất trong thực hiện chính sách dân tộc là không phân định rõ ràng giữa cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp. Nhiều chính sách được giao cho nhiều bộ, ngành cùng quản lý nhưng không gắn chặt trách nhiệm giải trình với kết quả đầu ra cụ thể.
Cùng với đó là chính sách phân tán ở quá nhiều “đường ray”. Mỗi bộ, ngành ban hành thông tư hướng dẫn riêng, tiêu chí đánh giá riêng, hệ thống số liệu báo cáo riêng, thiếu vắng cơ chế chia sẻ dữ liệu số giữa các ngành về đối tượng thụ hưởng chính sách dân tộc.
Những “điểm nghẽn” này cần được tháo gỡ bằng một Nghị định quy định rõ cơ chế tổ chức thực hiện chính sách dân tộc theo phương châm “6 rõ” (rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời hạn, rõ kết quả).
Đồng thời, phải xác định một cơ quan chủ trì chịu trách nhiệm chính cho mỗi nhiệm vụ, quy định rõ trách nhiệm phối hợp và chế tài nghiêm minh đối với hành vi chậm trễ, né tránh trách nhiệm.
Cũng cần thấy rằng, một văn bản cấp Nghị định dù được sửa đổi hoàn thiện đến đâu cũng không thể giải quyết triệt để những xung đột với các đạo luật chuyên ngành. Thực tế này đặt ra yêu cầu cần có một đạo luật chuyên ngành, pháp điển hóa hệ thống chính sách dân tộc, tạo nền tảng thể chế vững chắc trong lĩnh vực công tác dân tộc.
Thực tiễn hơn 15 năm thực hiện NĐ 05 cho thấy, hoàn thiện thể chế không chỉ là sửa đổi, bổ sung các quy định, mà phải giải quyết tận gốc tình trạng phân tán chính sách, chồng chéo trách nhiệm và ách tắc trong tổ chức thực hiện.
Kiến tạo cơ chế quản trị mới, là điều kiện để chính sách dân tộc trở thành động lực phát triển, giúp vùng đồng bào DTTS và miền núi khơi thông nguồn lực, phát huy nội lực và thu hẹp khoảng cách phát triển.


