Khi thể chế khóa giá trị đất, rừng (Bài 2)
Nghịch lý không nằm ở chỗ vùng đồng bào DTTS và miền núi thiếu đất, thiếu rừng, mà ở chỗ đất và rừng chưa được chuyển hóa đầy đủ thành nguồn lực sinh kế cho chính những người đang sống trên đất và giữ rừng.
LỜI TÒA SOẠN:
Sau hơn 15 năm (2011 - 2026) thực thi Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc, diện mạo vùng đồng bào DTTS và miền núi đã có bước chuyển mình mạnh mẽ. Nhưng sự phân tán nguồn lực, “bẫy thủ tục’ đầu tư công, xung đột quy hoạch đất đai và những điểm nghẽn thể chế đang kìm hãm đà bứt phá, khiến khu vực này hiện vẫn là “lõi nghèo” của cả nước.
Gắn với mục tiêu của Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2045, tuyến bài “Cởi trói” thể chế trong thực hiện chính sách dân tộc” của Báo VietNamNet mổ xẻ những nghịch lý cốt lõi, qua đó đề xuất giải pháp kiến tạo thể chế để vùng đồng bào DTTS và miền núi có lực và đủ lực vươn mình trong kỷ nguyên mới.
Người dân sống trên đất nhưng có thể không khai thác được giá trị của đất; người dân giữ rừng nhưng chưa được hưởng tương xứng giá trị kinh tế từ rừng đang là một nghịch lý ở vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Những điểm nghẽn từ quy hoạch, pháp luật chuyên ngành và cơ chế hưởng lợi đang khiến tài nguyên chưa thực sự trở thành nguồn lực sinh kế. Khi tài sản không thể chuyển hóa thành tư liệu sản xuất, thu nhập và vốn phát triển, mục tiêu giảm nghèo bền vững vì thế cũng gặp thêm một “nút thắt” ngay từ nền tảng.

Màu xanh phên giậu và trọng trách giữ “lá phổi xanh”
Vùng đồng bào DTTS và miền núi là nơi tập trung nguồn tài nguyên thiên nhiên, đa dạng sinh học và diện tích rừng lớn, đồng thời giữ vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh và sinh thái.
Gắn bó với rừng qua nhiều thế hệ, đồng bào DTTS là lực lượng trực tiếp tham gia bảo vệ, phát triển rừng, giữ gìn nguồn nước, đất đai và hệ sinh thái.
Thực hiện Tiểu dự án 1 của Dự án 3 về “Phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập cho người dân”, cả nước đã hỗ trợ khoán bảo vệ 3.735.786 ha; hỗ trợ bảo vệ 2.718.391 ha; khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung 4.178 ha; trồng 1.095 ha rừng phòng hộ, 26.654 ha rừng sản xuất và lâm sản ngoài gỗ; trợ cấp12.757 tấn gạo bảo vệ và phát triển rừng.
(Nguồn: Báo cáo tổng kết thi hành NĐ 05 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo)
Trong hơn 15 năm thực hiện Nghị định số 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc (NĐ 05), Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ, động viên đồng bào giữ đất, giữ rừng, đồng thời từng bước nâng cao đời sống.
Riêng giai đoạn 2021 - 2025, tổng ngân sách nhà nước đã bố trí 10.255 tỷ đồng thực hiện Tiểu dự án 1, Dự án 3 của Chương trình MTQG 1719. Nguồn lực này góp phần giảm nghèo trong vùng đồng bào DTTS khoảng 3 - 4%/năm và duy trì tỷ lệ che phủ rừng toàn quốc ở mức 42,03%.
Từ sự gắn kết tự nhiên với rừng, nhiều mô hình kinh tế dưới tán rừng bước đầu hình thành và phát triển, như vùng sâm Ngọc Linh, quế Trà My ở miền Trung; các vùng dược liệu quý ở Tây Bắc, Đông Bắc… Những mô hình này cho thấy, khi giá trị của rừng được khai mở, rừng không chỉ giữ nước, giữ đất mà còn tạo sinh kế bền vững.
Khi giá trị của đất chưa được giải phóng
Nhưng nghịch lý là đất và rừng chưa trở thành nguồn lực sinh kế tương xứng cho đồng bào DTTS. Ở không ít nơi, những quy định nhằm quản lý, bảo vệ tài nguyên lại đang tạo ra những “điểm khóa” khiến người dân khó tiếp cận và khai thác giá trị của tài nguyên.
Một trong những bất cập được chỉ ra trong Báo cáo số 3215/BC-BDTTG ngày 9/10/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo về tổng kết việc thi hành Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 127/2024/NĐ-CP ngày 10/10/2024 của Chính phủ (Báo cáo 3215) là sự va đập gay gắt giữa chính sách bảo đảm đất ở, đất sản xuất cho đồng bào DTTS với các quy hoạch khoáng sản và pháp luật chuyên ngành.

Điều 9 NĐ 05 đặt ra nguyên tắc Nhà nước có chính sách quy hoạch, bảo đảm quỹ đất ở, đất sản xuất; giao đất, giao rừng cho hộ gia đình đồng bào DTTS. Tuy nhiên, khi đi vào thực tiễn, nguyên tắc này gặp điểm nghẽn từ các quy định chuyên ngành, nhất là tại những khu vực chồng lấn với quy hoạch khoáng sản.
Luật Khoáng sản hiện hành có quy định: Đất thuộc quy hoạch thăm dò, khai thác khoáng sản (như các mỏ bô-xít, titan, đất hiếm...) thì tuyệt đối không được chuyển mục đích sử dụng sang đất ở, đất sản xuất, tuyệt đối không được xây dựng các công trình kiên cố.
Quy định “cứng” này khi áp dụng vào những vùng đất thuộc “quy hoạch treo” đã tác động đến hàng nghìn hộ dân vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Đơn cử tại Đồng Nai, khảo sát của Đoàn đại biểu Quốc hội địa phương này trong tháng 6/2026 cho thấy, tại xã Bù Đăng có hơn 8.128 ha vướng quy hoạch khoáng sản bô-xít, xã Thọ Sơn hơn 20.400 ha, xã Phước Sơn hơn 25.000 ha.
Tại những vùng vướng quy hoạch đều có những khu dân cư, vùng sản xuất ổn định lâu đời. Theo luật định, người dân trong vùng quy hoạch không thể xây dựng, cải tạo nhà cửa, không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không thể chuyển mục đích sử dụng đất hoặc thế chấp vay vốn, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sinh kế và định hướng phát triển.
Người giữ rừng đang đứng ngoài dòng tiền nghìn tỷ
Nếu ở đất đai, điểm nghẽn nằm ở khả năng sử dụng và khai thác giá trị của tài nguyên, thì với rừng, bài toán đặt ra ở cơ chế phân bổ lợi ích từ những giá trị mới của rừng.
Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Trong chiến lược đó, rừng ở vùng đồng bào DTTS và miền núi đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ hệ sinh thái và hấp thụ Carbon.
Giá trị kinh tế từ dịch vụ hấp thụ Carbon đang mở ra một hướng đi mới cho lâm nghiệp. Tháng 5/2025, Việt Nam đã chuyển nhượng 11,3 triệu tấn CO₂ từ rừng tự nhiên thuộc 5 tỉnh Bắc Trung Bộ (cũ) cho Ngân hàng Thế giới, thu về 56,5 triệu USD.
Theo báo cáo của Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam (VNFF), hơn 78.000 hộ gia đình, cá nhân, 1.204 cộng đồng dân cư, 445 UBND xã và 140 chủ rừng là tổ chức đã được hưởng lợi từ nguồn thu này. Nhưng tại một số địa bàn, phần lợi ích trực tiếp đến từng hộ, từng cộng đồng còn khá nhỏ.

Tại Hướng Hóa và Đakrông của tỉnh Quảng Trị cũ, theo báo cáo của VNFF, hơn 60 cộng đồng DTTS quản lý 12.300 ha rừng tự nhiên được chi trả hơn 1,5 tỷ đồng (khoảng 25 triệu đồng/cộng đồng), hơn 80 hộ gia đình quản lý 557 ha rừng tự nhiên được chi trả hơn 70 triệu đồng (chưa đến 900 nghìn đồng/hộ).
Những con số này cho thấy một nghịch lý, thị trường carbon nghìn tỷ chưa chuyển hóa tương xứng thành thu nhập cho cộng đồng và hộ gia đình trực tiếp giữ rừng.
Trong Báo cáo 3215 cũng chỉ ra, Việt Nam hiện chưa có khung pháp lý quy định đầy đủ về quyền sở hữu và cơ chế chia sẻ lợi ích từ việc bán tín chỉ carbon cho cộng đồng người DTTS nhận khoán bảo vệ rừng.
Phát triển cây dược liệu quý dưới tán rừng được đánh giá sẽ tạo đột phá trong giảm nghèo ở vùng đồng bào DTTS và miền núi. Nhưng hệ thống pháp luật lâm nghiệp về quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ hiện hành chưa tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng để người dân hợp tác với doanh nghiệp thuê môi trường rừng sản xuất quy mô lớn. Vì vậy, trong 5 năm (2021 - 2025) thực hiện Tiểu dự án 2, Dự án 3 Chương trình MTQG 1719 chỉ triển khai được 7 dự án trồng cây dược liệu.
Khi một cộng đồng dành nhiều năm bảo vệ rừng, nhưng chưa có cơ chế đủ rõ để xác lập quyền lợi từ những giá trị kinh tế mới mà rừng tạo ra, khoảng cách giữa “người giữ tài nguyên” và “người hưởng giá trị tài nguyên” vẫn tồn tại. Đây là khoảng trống cần được giải quyết nếu muốn biến bảo vệ rừng từ một nhiệm vụ chính sách thành một sinh kế bền vững.
Gỡ “điểm khóa” để tài nguyên thành sinh kế
Theo điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của 53 DTTS gần đây nhất, cả nước có khoảng 7,5 triệu người DTTS từ 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động. Trong đó, 63,5% người DTTS có việc làm trong nông, lâm nghiệp và thủy sản; tỷ lệ lao động làm công việc đơn giản trong khu vực phi chính thức còn cao.
Trong bối cảnh đó, đất và rừng vẫn là những tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đối với sinh kế của hàng triệu người.
Vì vậy, tháo gỡ những điểm nghẽn khiến tài nguyên không thể chuyển hóa thành thu nhập không chỉ là câu chuyện của chính sách đất đai, lâm nghiệp hay khoáng sản mà là một phần quan trọng của bài toán giảm nghèo và thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2045.

Đây cũng là lý do việc xây dựng Nghị định mới thay thế NĐ 05 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tại hội thảo do Bộ Dân tộc và Tôn giáo tổ chức ngày 6/10/2026 lấy ý kiến vào hồ sơ dự thảo Nghị định mới, nhiều ý kiến tập trung vào yêu cầu hoàn thiện thể chế, tháo gỡ những khoảng trống đang cản trở việc thực hiện chính sách dân tộc.
Từ những khoảng trống thể chế đã được thể ra, các chuyên gia cho rằng cần pháp điển hóa quyền thụ hưởng tín chỉ Carbon cho cộng đồng giữ rừng; đồng thời tháo gỡ xung đột giữa quy hoạch khoáng sản và chính sách hỗ trợ giải quyết các nhu cầu cấp bách về đất ở, đất sản xuất…
Đặc biệt là yêu cầu “cởi trói” quy định pháp lý về kinh tế dưới tán rừng để đồng bào DTTS sống gần rừng có sinh kế đủ mạnh, thoát nghèo bền vững.
Gỡ những “điểm khóa” thể chế không có nghĩa nới lỏng quản lý tài nguyên. Ngược lại, đó là cách chuyển từ tư duy chỉ bảo vệ tài nguyên, sang bảo vệ tài nguyên gắn với tạo giá trị và chia sẻ lợi ích công bằng hơn.
Khi đất có thể trở thành tư liệu sản xuất, rừng có thể tạo ra thu nhập và người giữ rừng có quyền lợi rõ ràng từ những giá trị mà họ góp phần tạo ra, tài nguyên mới thực sự trở thành nguồn lực cho phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS và miền núi.



