Bàn tròn chính sách

Bàn tròn chính sách

Nhìn trúng điểm nghẽn đặc thù để thực hiện chính sách dân tộc: Sinh kế là thước đo cuối cùng

Sỹ Hào 06/08/2026 18:57

Thước đo cuối cùng của chính sách dân tộc phải là sinh kế giúp người dân có việc làm, thu nhập ổn định và tự vươn lên thoát nghèo bền vững.

Lời tòa soạn:

Dù đã đạt được những kết quả tích cực, nhưng việc giải quyết các nhu cầu thiết yếu của người dân (đất ở, nhà ở, đất sản xuất, điện, nước sinh hoạt, sinh kế) hiện vẫn là những điểm nghẽn đặc thù ở vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Trong Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 12/5/2026 về đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và kết luận phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia ngày 9/7/2026, Thủ tướng Chính phủ đều yêu cầu các bộ ngành, địa phương tập trung giải quyết các điểm nghẽn này.

Từ thực tiễn triển khai qua nhiều thập niên, Báo VietNamNet thực hiện tuyến bài “Nhìn trúng điểm nghẽn đặc thù để thực hiện chính sách dân tộc”. Tuyến bài nhận diện những vướng mắc trong quá trình thực thi và đặt ra những vấn đề cần giải quyết để nâng cao hiệu quả chính sách hỗ trợ đất ở, nhà ở, đất sản xuất, điện, nước sinh hoạt và sinh kế ở vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Đất ở, nhà ở, điện lưới, nước sinh hoạt hay đất sản xuất đều chỉ là những điều kiện cần. Thước đo cuối cùng của chính sách dân tộc phải là người dân có việc làm, có thu nhập ổn định và tự vươn lên thoát nghèo.

Sau nhiều năm đầu tư hàng loạt chính sách thiết yếu, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới không còn là hỗ trợ nhiều hơn, mà là tạo sinh kế bền vững hơn.

Sinh kế 1
Đoàn công tác liên ngành Bộ Dân tộc và Tôn giáo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Tài chính đã kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 (Chương trình MTQG 1719) tại thôn Hồng Quân, xã Phủ Thông, tỉnh Thái Nguyên ngày 22/7/2026. Ảnh: Thế Toàn

Sinh kế - “mắt xích” quyết định hiệu quả của chính sách

Sơn Mai là xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Quảng Ngãi. Điện lưới đã phủ khắp 15/15 thôn, 100% hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó khoảng 29% hộ được dùng nước sạch đạt quy chuẩn, nhưng đến tháng 5/2026 xã vẫn còn 121 hộ nghèo (có 104 hộ dân tộc Hrê).

Trong Kế hoạch số 95/KH-UBND ngày 15/5/2026 về thực hiện mục tiêu giảm nghèo năm 2026, UBND xã Sơn Mai xác định nguyên nhân nghèo chủ yếu là thiếu sinh kế, thu nhập không ổn định. Vì vậy, thay vì hỗ trợ dàn trải, xã xây dựng phương án hỗ trợ riêng, mục tiêu giúp 39 hộ thoát nghèo trong năm 2026.

Gia đình ông Đinh Văn Phố, sinh năm 1990, dân tộc Hrê, thôn Long Thượng, là một trong số đó. Có đất sản xuất, có sức lao động nhưng thiếu vốn nên nhiều năm nay, gia đình có 7 nhân khẩu này vẫn thuộc diện hộ nghèo.

Để giúp gia đình ông Phố thoát nghèo, địa phương đưa ra ba phương án hỗ trợ: Vay vốn phát triển sản xuất, học nghề hoặc đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Các phòng chuyên môn và Ngân hàng Chính sách xã hội phối hợp triển khai theo chức năng, nhiệm vụ.

Thực tế ở Sơn Mai cho thấy, khi các điều kiện thiết yếu như điện, nước, đất sản xuất từng bước được bảo đảm, điểm nghẽn còn lại của giảm nghèo chính là sinh kế. Phương án để hóa giải điểm nghẽn này là hỗ trợ đúng nhu cầu của từng hộ nghèo.

Nguyên nhân nghèo được nhận diện cụ thể và giải pháp được “đo ni đóng giày”, chính sách mới có khả năng chuyển hóa thành sinh kế bền vững. Đây cũng là gợi mở quan trọng cho giai đoạn 2026 - 2030, khi chính sách tạo sinh kế cần chuyển mạnh từ hỗ trợ theo cơ chế sang hỗ trợ theo nhu cầu, lấy hiệu quả thoát nghèo làm đích đến.

Điểm nghẽn nằm ở quy mô và liên kết

Câu chuyện ở Sơn Mai cho thấy, các chính sách chỉ thực sự “về đích” khi giúp hộ nghèo tạo được sinh kế, gắn với điều kiện thực tế và nhu cầu của từng hộ. Điều này đặt ra vấn đề phải nhìn lại các chương trình, dự án tạo sinh kế hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững cho đồng bào DTTS đã được triển khai.

Một trong những hoạt động có quy mô lớn trong những năm gần đây là dự án đa dạng hóa sinh kế, phát triển mô hình giảm nghèo thuộc Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025 (Dự án 2), theo Quyết định số 90/QĐ-TTg.

Liên kết sản xuất mở rộng cơ hội sinh kế

Giai đoạn 2021 - 2025, cả nước thực hiện 402 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị từ vốn Chương trình MTQG 1719, tổng kinh phí hơn 306,1 tỷ đồng. Có 13.596 hộ DTTS (bình quân khoảng 34 hộ/dự án) và 817 doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia vào các dự án sản xuất theo chuỗi giá trị.
Ngoài ra, các địa phương đã triển khai 2.562 dự án phát triển sản xuất cộng đồng, tổng vốn thực hiện hơn 588,7 tỷ đồng. Đồng thời triển khai 12 mô hình khởi nghiệp, khởi sự kinh doanh tại vùng đồng bào DTTS và miền núi.

(Báo cáo tổng kết Chương trình MTQG 1719)

Số liệu tại hội nghị tổng kết 2 Chương trình MTQG giai đoạn 2021 - 2025 (xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững) tổ chức tháng 6/2025 cho thấy, trong 5 năm cả nước triển khai được 10.587 dự án giảm nghèo, với 205.585 hộ tham gia. Như vậy, bình quân mỗi dự án giảm nghèo chỉ có khoảng 19 - 20 hộ tham gia.

Con số này cho thấy, các dự án giảm nghèo vẫn chủ yếu được tổ chức ở quy mô nhỏ, khó hình thành vùng sản xuất hoặc chuỗi giá trị đủ lớn để tạo sinh kế bền vững.

Trong báo cáo tổng kết, Ban Chỉ đạo Trung ương thẳng thắn nhìn nhận, số lượng dự án nhiều nhưng nhỏ, chưa tập trung vào mô hình mới gắn với tăng trưởng xanh và bền vững hoặc mô hình chuỗi.

Ngay cả với Dự án 3 (Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025), việc hỗ trợ phát triển sản xuất cũng được “gom” vào các mô hình. Trong 5 năm, các địa phương triển khai được 6.174 dự án cho khoảng 99.594 hộ tham gia, bình quân mỗi dự án chỉ có khoảng 16 hộ.

Sinh kế 2
Cuối năm 2025, gia đình ông Phạm Văn Biền, thôn Hoa Sơn, xã Phủ Thông, tỉnh Thái Nguyên được hỗ trợ 11 con dê giống từ vốn Chương trình MTQG 1719. Dê đẻ 2 lứa/năm, mang lại nguồn thu nhập trung bình khoảng 50 triệu đồng/năm. Ảnh: Thế Toàn

Điều này cho thấy các mô hình hỗ trợ tạo sinh kế chủ yếu được thực hiện ở quy mô không lớn. Ngoài ra, Ban Chỉ đạo Trung ương cũng đánh giá, các địa phương gặp khó khăn trong thực hiện các dự án liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị có thời gian thực hiện từ 2 - 3 năm.

Điểm nghẽn “đầu ra” trong đào tạo nghề

Để tạo sinh kế, việc hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm cũng là hoạt động trọng tâm trong các Chương trình MTQG giai đoạn 2021 - 2025. Trước khi xây dựng chính sách cho giai đoạn mới, kết quả điều tra kinh tế - xã hội 53 DTTS năm 2019 cho thấy, trong gần 4 triệu lao động DTTS chỉ có khoảng 3% lao động qua đào tạo, tương đương khoảng 120.000 người.

Thực hiện Chương trình MTQG 1719, cả nước đã triển khai 1.901 mô hình đào tạo nghề, với 115.575 lao động tham gia. Trong 5 năm có 5.385 lao động được hỗ trợ bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ và thủ tục đi xuất khẩu lao động; có 37.718 người được hỗ trợ giới thiệu, tư vấn đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

(Báo cáo tổng kết Chương trình MTQG 1719)

5 năm qua, mặc dù đã hạn chế tình trạng “đánh trống ghi tên” nhưng kết quả đầu ra của đào tạo nghề cho lao động DTTS vẫn là một điểm nghẽn. Không chỉ ở số liệu thống kê mà chất lượng đào tạo nghề cũng là vấn đề cần tính toán lại.

Trong đó, chính sách hỗ trợ đào tạo nghề thuộc Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững đã góp phần nâng tỷ lệ người lao động qua đào tạo đạt 69,2% (28,8% có bằng cấp chứng chỉ). Nhưng báo cáo tổng kết cũng chỉ rõ, Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa tách riêng số liệu lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và tỷ lệ lao động thuộc vùng nghèo, vùng khó khăn.

Cũng cần lưu ý rằng, con số 28,8% có bằng cấp chứng chỉ trong tổng số 69,2% cho thấy, tỷ lệ lao động qua đào tạo chủ yếu có trình độ sơ cấp, thời gian đào tạo dưới 3 tháng. Hoạt động đào tạo nghề vì thế lặp lại tồn tại của các giai đoạn trước đó, được chỉ rõ trong Báo cáo số 426/BC-CP ngày 4/10/2018 của Chính phủ.

Sinh kế 3
Đào tạo, tập huấn kỹ thuật giúp người dân vùng sâu, vùng xa từng bước tiếp cận phương thức sản xuất mới - Ảnh: Vũ Mừng.

Theo báo cáo này, giai đoạn 2016 - 2018, cả nước có 480 nghìn người DTTS được học nghề. Trong đó chỉ có 130 nghìn người (8%) học trung cấp, cao đẳng, còn lại được hỗ trợ học nghề trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng theo chính sách của Đề án 1956.

Trong báo cáo, Chính phủ đánh giá, số người lao động DTTS học nghề sơ cấp và dưới 3 tháng chủ yếu tiếp tục làm nghề cũ trước đào tạo, số người chuyển đổi sang lĩnh vực phi nông nghiệp còn hạn chế.

Tình trạng thiếu việc làm của thanh niên DTTS là vấn đề bức xúc, tỷ lệ thất nghiệp 5,76%, cao gấp 2,5 lần so với tỷ lệ thất nghiệp của cả nước (2,34%). Điều đó cho thấy, thước đo của đào tạo nghề không phải số người được học, mà là bao nhiêu người có việc làm ổn định sau đào tạo.

Từ “trao cần câu” đến “xây hệ sinh thái sinh kế”

Qua nhiều giai đoạn thực hiện, với những điểm nghẽn kéo dài đòi hỏi cần chuyển tư duy xây dựng, thực thi chính sách, từ hỗ trợ riêng lẻ sang tạo lập điều kiện phát triển đồng bộ. Trong đó xác định nhu cầu về đất ở, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, điện lưới là nhu cầu thiết yếu, nhưng đích cuối cùng phải là sinh kế.

Thực tiễn ở nhiều địa phương cho thấy, sinh kế chỉ thực sự hình thành khi các chính sách về đất đai, tín dụng, đào tạo nghề, chuyển giao kỹ thuật, hạ tầng và liên kết thị trường được triển khai đồng thời.

Nếu trước đây chính sách chủ yếu hướng tới giải quyết từng nhu cầu thiết yếu thì giai đoạn mới cần hướng tới tạo lập một hệ sinh thái sinh kế, nơi đất ở, nhà ở, điện, nước, đất sản xuất, tín dụng, đào tạo nghề và thị trường được kết nối thành một chuỗi hỗ trợ hoàn chỉnh.

Nói cách khác, mục tiêu của chính sách không chỉ “trao cần câu” mà tạo ra hệ sinh thái sinh kế. Chỉ khi đó, chính sách mới thực sự chuyển hóa thành thu nhập và khả năng tự vươn lên của người dân.

Yêu cầu này đã được được quy chiếu trong Nội dung thành phần số 3, số 4 thuộc Hợp phần thứ nhất, Chương trình MTQG giai đoạn 2026 - 2030 theo Quyết định số 417/QĐ-BNNMT. Các chính sách trong 2 nội dung thành phần này hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế nông thôn theo hướng sinh thái, hiện đại; nâng chất lượng đào tạo nghề để chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Nhưng để chính sách đi đến đích, thước đo không nên dừng ở số mô hình được xây dựng, số lớp đào tạo nghề được tổ chức hay số hộ được hỗ trợ. Quan trọng hơn cả, đầu ra của chính sách phải được tính đến, với kết quả minh bạch về số hộ thoát nghèo bền vững, số lao động có việc làm ổn định….

Khi người dân có việc làm, có thu nhập ổn định và có khả năng tự vươn lên bằng chính sức lao động của mình, những chính sách hỗ trợ mới thực sự hoàn thành sứ mệnh. Đó cũng là đích đến cuối cùng của chính sách, không chỉ giúp đồng bào thoát nghèo, mà tạo nền tảng để phát triển bền vững.

Sỹ Hào