Công tác Dân tộc

Công tác Dân tộc

“Định vị” đúng nguy cơ để không mất di sản văn hóa dân tộc thiểu số

Sỹ Hào 03/07/2026 07:10

Muốn bảo tồn hiệu quả thì trước hết phải “định vị” đúng nguy cơ khẩn cấp của từng loại hình di sản văn hóa DTTS, tạo tiền đề để “kích hoạt” các chính sách bảo tồn kịp thời.

Di sản văn hóa DTTS chỉ có thể được bảo tồn khi những dấu hiệu mai một được nhận diện đúng lúc. Do đó, việc xây dựng bộ tiêu chí xác định mức độ nguy cơ khẩn cấp, không đơn thuần là yêu cầu kỹ thuật, mà là nền tảng để triển khai các chính sách bảo tồn kịp thời, hiệu quả, phù hợp với đặc thù của từng dân tộc và từng cộng đồng.

Với ý nghĩa then chốt đó, các tiêu chí nhận diện và phân loại giá trị văn hóa truyền thống trong dự thảo Nghị định bảo tồn và phát triển văn hóa các DTTS được các bộ, ngành, địa phương quan tâm. Dự thảo được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) đưa ra lấy ý kiến rộng rãi từ 15/6 đến 15/7/2026.

Các ý kiến góp ý dù khác nhau ở lĩnh vực quản lý nhà nước và đặc thù địa phương, nhưng đều thống nhất quan điểm: Một giá trị văn hóa truyền thống, khi đã mất đi chủ thể thực hành hoặc đứt gãy quá trình trao truyền sẽ rất khó phục hồi. Do đó, việc xác định nguy cơ cần hướng đến phát hiện sớm thay vì chỉ ghi nhận khi di sản đã ở giai đoạn mai một.

Văn hóa dân tộc thiểu số 1
Di sản văn hóa phi vật thể khác với di tích vật thể ở chỗ giá trị của nó tồn tại trong con người. Khi chủ thể thực hành không còn, việc phục dựng gần như không thể thực hiện bằng nguồn lực vật chất đơn thuần.

Tiêu chí không chỉ mô tả hiện trạng mà phải đo được nguy cơ

Trong dự thảo Nghị định, thực trạng mai một văn hóa truyền thống các DTTS được phân loại theo 2 mức độ: Nghiêm trọng (mức độ 1) và nguy cơ cao (mức độ 2). Ở mỗi mức độ đều có bộ tiêu chí nhận diện.

Sự quan tâm của các địa phương dồn về các tiêu chí để xác định nguy cơ mức độ 1. Nhiều ý kiến thống nhất nhận định, các tiêu chí còn nặng về định lượng, chưa sát với thực tiễn.

Một trong những tiêu chí cứng để xác định nguy cơ mai một nghiêm trọng, là chủ thể văn hóa nắm giữ, thực hành giá trị văn hóa truyền thống không còn hoặc còn dưới 5 cá nhân, không có chủ thể văn hóa kế cận.

Nhưng theo Sở VHTT&DL tỉnh Lai Châu, thực tế tại các địa phương vùng đồng bào DTTS và miền núi, nhiều loại hình văn hóa còn rất ít người thực hành nhưng vẫn duy trì thường xuyên trong cộng đồng. Do đó cần nghiên cứu quy định linh hoạt hơn đối với tiêu chí số lượng chủ thể văn hóa nắm giữ, thực hành giá trị văn hóa truyền thống.

Tiêu chuẩn xác định giá trị văn hóa truyền thống nguy cơ mai một nghiêm trọng

- Chủ thể văn hóa còn dưới 5 cá nhân, không có chủ thể văn hóa kế cận.

- Hoạt động thực hành, trao truyền bị gián đoạn từ 5 năm liên tục trở lên.

- Không gian văn hóa truyền thống bị thu hẹp 70% trở lên hoặc không còn tồn tại.

- Tri thức dân gian, kỹ năng hoặc hình thức biểu đạt văn hóa truyền thống có nguy cơ thất truyền hoàn toàn.

- Chỉ còn dưới 20% thành viên cộng đồng liên quan còn nhận biết, tham gia thực hành hoặc có nhu cầu duy trì giá trị văn hóa.

(Dự thảo Nghị định bảo tồn và phát triển văn hóa các DTTS)

Hoạt động thực hành, trao truyền bị gián đoạn cũng là tiêu chí để nhận diện di sản có nguy cơ mai một nghiêm trọng. Đó là khi một giá trị văn hóa truyền thống không còn được thực hành thường xuyên trong cộng đồng hoặc đã gián đoạn từ 5 năm liên tục trở lên mà không có hoạt động phục hồi, trao truyền.

Tuy nhiên, mốc thời gian này chưa phản ánh đúng tốc độ mai một của di sản văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Với những loại hình chỉ còn rất ít người nắm giữ, đa phần cao tuổi, 5 năm có thể đồng nghĩa với việc mất hẳn chủ thể thực hành và không còn cơ hội khôi phục nguyên vẹn giá trị văn hóa.

Di sản văn hóa phi vật thể khác với di tích vật thể ở chỗ giá trị của nó tồn tại trong con người. Khi chủ thể thực hành không còn, việc phục dựng gần như không thể thực hiện bằng nguồn lực vật chất đơn thuần.

Chính vì vậy, Sở VHTT&DL các tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Thái Nguyên đề nghị điều chỉnh giảm thời gian gián đoạn từ 5 năm xuống còn 3 năm.

Việc rút ngắn thời gian nhận diện nguy cơ không chỉ là điều chỉnh về kỹ thuật, mà còn là giải pháp cần thiết để “kích hoạt” các biện pháp bảo tồn trước khi di sản thực sự biến mất.

Bảo tồn văn hóa DTTS: “Định vị” nguy cơ thu hẹp không gian văn hóa

Trong dự thảo Nghị định, quy định không gian văn hóa truyền thống bị thu hẹp từ 70% trở lên hoặc không còn tồn tại là tiêu chí để nhận diện giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một nghiêm trọng. Nhưng tiêu chí khiến nhiều ý kiến băn khoăn.

Cục văn hóa cơ sở - Gia đình và Thư viện (Bộ VHTT&DL) cho rằng cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu bổ sung tiêu chí định lượng, hướng dẫn phương pháp đánh giá và xác định tỷ lệ đối với nội dung như “không gian văn hóa bị thu hẹp”. Đây là điều kiện cần để bảo đảm tính khả thi, thống nhất khi áp dụng tại các địa phương.

Thực tế cho thấy, việc định lượng không gian văn hóa truyền thống bị thu hẹp bao nhiêu là rất khó. Sự mai một của không gian văn hóa diễn ra âm thầm và phức tạp hơn nhiều so với những gì có thể đo đếm bằng các chỉ số đơn thuần.

văn hóa dân tộc thiểu số 2
Ở các địa phương vùng đồng bào DTTS, nhiều loại hình văn hóa dù còn rất ít người thực hành nhưng vẫn duy trì thường xuyên trong cộng đồng.

Cùng với quá trình hội nhập, ở một số bản làng vùng đồng bào DTTS và miền núi, nhiều giá trị truyền thống vẫn còn hiện diện về mặt vật chất, nhưng không gian văn hóa đã dần bị thu hẹp khi cộng đồng không còn duy trì sinh hoạt, phong tục, nghi lễ như trước. Hay nói cách khác là không gian văn hóa suy giảm trước khi những dấu hiệu vật chất biến mất.

Để “định vị” đúng mức độ nguy cấp của di sản, Sở VHTT&DL tỉnh Thanh Hóa đề nghị, bổ sung quy định và hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm hỗ trợ kỹ thuật của cơ quan chuyên môn trong việc xác định mức độ thu hẹp “không gian văn hóa truyền thống”. Cơ quan này khẳng định, thực tế cấp xã còn gặp khó khăn trong việc định lượng, đo đạc và xác định tỷ lệ phần trăm khi triển khai thực hiện.

Còn Sở VHTT&DL tỉnh Thái Nguyên thì đề nghị, chỉnh thành tiêu chí định tính kết hợp định lượng. Đó là “không gian thực hành chính bị thu hẹp nghiêm trọng, không còn đáp ứng điều kiện duy trì thực hành văn hóa; trường hợp có đủ dữ liệu thì xác định tỷ lệ thu hẹp từ 70% trở lên”.

Từ các góp ý nêu trên có thể thấy, mục tiêu của việc xây dựng tiêu chí không phải để tìm ra một con số tuyệt đối, mà là nhận diện chính xác mức độ suy giảm của không gian văn hóa truyền thống. Một bộ tiêu chí kết hợp hài hòa giữa định lượng và định tính sẽ phản ánh sát hơn thực tiễn ở vùng đồng bào DTTS, nơi nhiều giá trị văn hóa vẫn tồn tại nhưng môi trường thực hành đang dần bị thu hẹp.

Cơ chế đặc thù đối với những di sản đang ở ngưỡng báo động

Cũng cần thấy rằng, hiện một số giá trị văn hóa truyền thống chỉ còn vài nghệ nhân thực hành, có những di sản chỉ còn tồn tại trong phạm vi một bản làng. Thực tế cho thấy, không phải mọi loại hình văn hóa đều có cùng mức độ rủi ro, nếu áp dụng cùng một cơ chế sẽ khó cứu được các giá trị đang bên bờ mai một.

Đáng chú ý nhất là, nguy cơ mai một nhiều giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc đặc biệt ít người (Ơ Đu, Rơ Măm, Brâu, Pu Péo…).

Trong văn bản góp ý gửi Bộ VHTT&DL, Bộ Công an cho rằng, đối với các dân tộc ít người đang có nguy cơ mai một rất cao về văn hóa truyền thống, nhưng trong dự thảo Nghị định chưa quy định các cơ chế bảo tồn khẩn cấp, riêng biệt với những cơ chế đặc thù, linh hoạt.

Văn hóa dân tô thiểu số 3
Với những loại hình chỉ còn rất ít người nắm giữ, đa phần cao tuổi, chậm kích hoạt chính sách bảo tồn đồng nghĩa với việc giảm cơ hội khôi phục nguyên vẹn giá trị văn hóa.

Thời gian qua, các chính sách bảo tồn văn hóa mặc dù đã có sự ưu tiên cho những cộng đồng có dân số ít, nhưng chưa thực sự tạo đột phá. Do đó, Bộ Công an đề nghị, nghiên cứu ban hành quy định riêng về chính sách đặc thù nhằm bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc rất ít người, có nguy cơ mai một văn hóa truyền thống cao.

Bộ Công an cũng cho rằng, việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc là một bộ phận không thể tách rời, phải nằm trong tổng thể chung của công tác bảo tồn và phát triển văn hóa Việt Nam.

Thông qua các hoạt động bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc để tạo thêm sinh kế, công ăn việc làm, phát triển kinh tế, nâng cao dân trí ở vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Có thể thấy, việc xây dựng tiêu chí nhận diện giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một, không chỉ là yêu cầu về mặt kỹ thuật trong xây dựng chính sách, mà còn là bước khởi đầu quyết định hiệu quả của toàn bộ quá trình bảo tồn.

Khi nguy cơ được "định vị" đúng và đủ, Nhà nước mới có cơ sở phân loại mức độ ưu tiên, thiết kế cơ chế phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là các dân tộc rất ít người và những di sản đang ở ngưỡng báo động.

Bảo tồn di sản không bắt đầu từ khi di sản biến mất, mà bắt đầu từ lúc nhận diện được nguy cơ của sự biến mất ấy. “Định vị” đúng nguy cơ vì thế không chỉ là bước đầu của quy trình quản lý, mà chính là điều kiện để những giá trị văn hóa của các DTTS được tiếp nối trong đời sống đương đại.

Sỹ Hào