Công tác Dân tộc

Khơi thông nguồn lực văn hóa DTTS bằng cơ chế mới:Giữ “căn cước văn hóa” giữa nhịp sống hiện đại (Bài 1)

Sỹ Hào 17/05/2026 07:03

Giữ “căn cước văn hóa” không chỉ bảo tồn bản sắc, mà còn là nguồn lực để cộng đồng phát triển bền vững. Từ những cơ chế, chính sách mới, các di sản văn hóa của đồng bào DTTS sẽ được tiếp thêm nguồn lực để trao truyền và thắp lại sức sống trong đời sống đương đại.

Lời tòa soạn:

Định hướng của Bộ Chính trị trong Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 đã được Quốc hội thể chế hóa trong Nghị quyết 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam. Những cơ chế, chính sách mới được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực nhằm gìn giữ, đồng thời phát huy các giá trị văn hóa nói chung, bản sắc truyền thống của đồng bào các DTTS nói riêng.

Tuyến bài “Khơi thông nguồn lực văn hóa DTTS bằng cơ chế mới” phản ánh những chuyển động mới trong công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số; từ nỗ lực giữ gìn “căn cước văn hóa”, phục hồi các di sản có nguy cơ mai một đến hành trình đưa văn hóa bước ra đời sống đương đại, trở thành nguồn lực cho phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Khơi thông nguồn lực1
Dưới chân cột cờ Lũng Cú, làng Thèn Pả đang dần trở thành một điểm du lịch nổi bật ở xã Lũng Cú, tỉnh Tuyên Quang - Ảnh: Nguyễn Quân

Khơi thông nguồn lực để văn hóa thành ‘tài sản đảm bảo’ cho phát triển

Trước khi Quốc hội bấm nút thông qua Nghị quyết 28/2026/QH16, thảo luận trên nghị trường về cơ chế, chính sách phát triển văn hóa Việt Nam, nhiều đại biểu đã nhấn mạnh đến yêu cầu cấp bách hoàn thiện cơ chế để khơi thông nguồn lực bảo tồn và phát huy văn hóa DTTS.

Theo đại biểu Hoàng Ngọc Định (đoàn Tuyên Quang), công tác bảo tồn văn hóa DTTS đang đối diện nhiều thách thức: Ngôn ngữ của một số dân tộc dần ít người sử dụng; đội ngũ nghệ nhân ngày càng cao tuổi; việc truyền dạy trong cộng đồng chưa có cơ chế ổn định…

Nhà nước bảo đảm nguồn lực tài chính bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam và các giá trị văn hóa có nguy cơ mai một, nghệ thuật truyền thống; xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù cho văn hóa các dân tộc thiểu số; phát triển không gian bảo tồn văn hóa, làng, bản, buôn, phum, sóc truyền thống gắn với phát triển du lịch, phát huy vai trò của chủ thể văn hóa tạo sinh kế bền vững.

(Khoản 1, Điều 6 Nghị quyết 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam)

Vì vậy, đại biểu Định cho rằng, cần có các giải pháp đồng bộ, trọng tâm là xây dựng chính sách hỗ trợ hoạt động truyền dạy, thực hành các loại hình văn hóa, nghệ thuật dân gian, truyền thống, bảo đảm việc trao truyền được thực hiện liên tục, hiệu quả.

“Nơi nào giữ được bản sắc văn hóa thì nơi đó phát triển du lịch bền vững hơn, nơi nào bảo tồn và phát huy được văn hóa trong cộng đồng thì nơi đó có sức hấp dẫn riêng và tạo sinh kế cho người dân”, đại biểu Định nói.

Đây là nhận định hoàn toàn có cơ sở thực tiễn. Hiện nhiều thôn bản vùng đồng bào DTTS và miền núi đã giải quyết được căn cơ bài toán giảm nghèo bền vững, nhờ phát huy bản sắc văn hóa truyền thống để phát triển du lịch.

Khơi thông nguồn lực 4
Đại biểu Hoàng Ngọc Định (đoàn Tuyên Quang) thảo luận trên nghị trường ngày 22/4/2026.

Đơn cử như thôn Lô Lô Chải, xã Lũng Cú (Tuyên Quang), có 120 hộ, chủ yếu là đồng bào dân tộc Lô Lô – một trong 9 dân tộc có khó khăn đặc thù giai đoạn 2026 – 2030.

Theo ông Ma Doãn Khánh, Phó chủ tịch UBND xã Lũng Cú, bản sắc văn hóa độc đáo chính là “tài sản đảm bảo” để người dân trong thôn khởi nghiệp.

Những hộ làm du lịch cộng đồng ở đây có thu nhập bình quân 16 - 20 triệu đồng/tháng – con số mà nhiều gia đình ở đồng bằng chưa đạt được.

Từ một bản vùng biên heo hút, tỷ lệ nghèo cao (năm 2018 trên 51%), cuối năm 2025, Lô Lô Chải chỉ còn 4 hộ nghèo, 4 hộ cận nghèo.

“Muốn giữ tiếng chiêng ngân phải giữ được cái bụng ấm”

Cùng với nguồn lực của Nhà nước, văn hóa truyền thống đã và đang được đồng bào DTTS chung tay gìn giữ, trao truyền. Ý thức bảo vệ di sản của cha ông, đã trở thành “hệ tư tưởng” ở nhiều cộng đồng DTTS.

Đồng bào dân tộc Cờ Lao ở xã Tân Tiến (Tuyên Quang) là một ví dụ. Bao năm nay, bà con luôn trân trọng, nâng niu chiếc váy cổ được cha ông truyền lại. Chiếc váy đã được lưu giữ qua 16 đời người, chỉ trưng bày hoặc giới thiệu trong những dịp quan trọng như cúng lễ hay làm ma khô.

Giữa gìn căn cước văn hóa 3
Đại biểu Y Bhen Kđoh (đoàn Đắk Lắk) : “Muốn giữ tiếng chiêng ngân phải giữ được cái bụng ấm. Bảo tồn văn hóa phải bắt đầu từ việc bảo đảm đời sống cho chủ thể sáng tạo” - Ảnh: TTXVN

Theo ông Min Phà Kháy, Người có uy tín thôn Tả Chải, việc gìn giữ bộ váy, không chỉ là nhắc nhở con cháu nhờ về tổ tiên, mà còn là một cách để giữ lửa nghề may thêu, lưu truyền kỹ thuật và giá trị văn hóa của tổ tiên mình.

Cũng như đồng bào Cờ Lao ở xã Tân Tiến, nhiều bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS đang được giữ gìn trong cộng đồng, từ sự gương mẫu của những cá nhân tâm huyết. Họ là các nghệ nhân dân gian, Người có uy tín, trưởng dòng họ,...

Nhưng có thực tế đáng suy ngẫm là, cơ chế, chính sách hỗ trợ cộng đồng và cá nhân bảo tồn văn hóa DTTS vẫn còn một khoảng trống. Trên nghị trường, đại biểu Dương Mạc Kiên (đoàn Cao Bằng) đã đặt câu hỏi: Cộng đồng được hưởng lợi bằng cơ chế nào? Nghệ nhân nắm giữ tri thức bản địa được hỗ trợ trực tiếp ra sao?

Còn đại biểu Y Bhen Kđoh (đoàn Đắk Lắk) kiến nghị chính sách, với hình ảnh đầy sức nặng: “Muốn giữ tiếng chiêng ngân phải giữ được cái bụng ấm. Bảo tồn văn hóa phải bắt đầu từ việc bảo đảm đời sống cho chủ thể sáng tạo”.

“Đổi mới mạnh mẽ tư duy, phát huy vai trò, sứ mệnh của văn nghệ sĩ, trí thức, người làm công tác văn hoá, doanh nhân, nghệ nhân dân gian, người có uy tín, có tầm ảnh hưởng, chức sắc tôn giáo như một lực lượng nòng cốt, cùng với toàn thể Nhân dân chung tay sáng tạo và lan toả giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc”.

(Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam)

Theo ông, dù rất tâm huyết nhưng nhiều nghệ nhân không thể toàn tâm “giữ lửa” văn hóa do đời sống còn khó khăn. Do đó, chính sách đãi ngộ không nên chỉ dừng ở trợ cấp tài chính, mà cần hỗ trợ tư liệu sản xuất, sinh kế đặc thù cho nghệ nhân vùng khó khăn.

Trăn trở của các đại biểu đã được chuyển hóa thành chính sách trong Nghị quyết 28/2026/QH16. Quốc hội quyết nghị, chính quyền địa phương cấp tỉnh bố trí ngân sách, huy động nguồn lực xã hội để đãi ngộ, hỗ trợ nghệ nhân, nghệ sĩ sáng tạo, thực hành, truyền dạy văn hóa, nghệ thuật dân gian, nghệ thuật truyền thống.

Nhưng xét cho cùng, đây cũng mới là khung chính sách. Từ nghị quyết đến thực tiễn vẫn cần một quá trình thiết kế; tổ chức thực thi đủ sâu, đủ sát với đời sống của đồng bào.

"Khơi thông" năng lực thiết kế, thực thi chính sách

Những năm gần đây, công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc đã được quan tâm triển khai từ các chương trình, dự án. Có những giá trị văn hóa tưởng chừng đã mất, nay không chỉ được phục hồi mà còn đang được trao truyền cho thế hệ trẻ.

Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, là một trong những đơn vị có nhiều thành tựu trong công tác phục hồi, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số.

Theo Phó giám đốc bảo tàng Nguyễn Cảnh Phương, chỉ riêng 5 năm (2021-2025), đơn vị thực hiện 16 chương trình, dự án, qua đó làm sống lại nhiều di sản quý của đồng bào các dân tộc, lan tỏa trong đời sống xã hội.

“Như múa khèn của người Mông ở xã Bằng Thành, tỉnh Thái Nguyên được tất cả các em học sinh trường nội trú hồ hởi đón nhận, đã minh chứng tốt nhất cho việc triển khai có hiệu quả các chương trình này”, ông Phương cho biết.

Những cách làm hiệu quả trong gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào DTTS rất cần được đánh giá, đúc rút kinh nghiệm để nhân rộng trong thời gian tới.

Trong Nghị quyết số 80-NQ/TW, Bộ Chính trị yêu cầu, đến năm 2030 phục hồi, bảo tồn di sản văn hoá phi vật thể, nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một, cần bảo vệ khẩn cấp.

Giữ gìn căn cước 4
Trường Phổ thông Dân tộc nội trú - THPT tỉnh Tuyên Quang tưng bừng tổ chức Ngày hội trải nghiệm văn hóa - thể thao các dân tộc.

Định hướng phát triển văn hóa từ Nghị quyết 80-NQ/TW đã được thể chế hóa bằng những cơ chế, chính sách trong Nghị quyết 28/2026/QH16.

Nhưng để di sản không chỉ “sống” trong các chương trình phục dựng hay hồ sơ kiểm kê, điều quan trọng hơn cả vẫn là năng lực thiết kế và thực thi chính sách.

Bởi chỉ khi cộng đồng được trao quyền tham gia, nghệ nhân có thể sống được bằng vốn văn hóa của mình và người dân thực sự được hưởng lợi từ bảo tồn, thì những giá trị truyền thống mới có thể tiếp tục được trao truyền tự nhiên qua các thế hệ.

Khi đó, hành trình “đánh thức” di sản sẽ không dừng ở việc giữ lại hồn xưa, mà còn mở ra động lực phát triển mới cho vùng đồng bào DTTS và miền núi.

    Nổi bật

        Xem thêm

        Khơi thông nguồn lực văn hóa DTTS bằng cơ chế mới: Giữ “căn cước văn hóa” giữa nhịp sống hiện đại (Bài 1)
        • Mặc định