Khơi thông nguồn lực văn hóa DTTS bằng cơ chế mới:Gỡ điểm nghẽn hưởng thụ văn hóa (Bài 2)
Khơi thông nguồn lực không chỉ để gìn giữ di sản mà còn góp phần thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các khu vực khác.
Lời tòa soạn:
Định hướng của Bộ Chính trị trong Nghị quyết 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 đã được Quốc hội thể chế hóa trong Nghị quyết 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam. Những cơ chế, chính sách mới được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực nhằm gìn giữ, đồng thời phát huy các giá trị văn hóa nói chung, bản sắc truyền thống của đồng bào các DTTS nói
riêng.Tuyến bài “Khơi thông nguồn lực văn hóa DTTS bằng cơ chế mới” phản ánh những chuyển động mới trong công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số; từ nỗ lực giữ gìn “căn cước văn hóa”, phục hồi các di sản có nguy cơ mai một đến hành trình đưa văn hóa bước ra đời sống đương đại, trở thành nguồn lực cho phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Khoảng cách thụ hưởng văn hóa-rào cản thầm lặng của phát triển
Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 nhấn mạnh tình trạng chênh lệch trong tiếp cận, thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền. Sự bùng nổ của các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới, làm gia tăng nguy cơ xâm nhập của các yếu tố ngoại lai phản cảm, phi văn hóa, gây xung đột giá trị và tác động tiêu cực đến việc gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Những thách thức này càng trở nên rõ nét khi nhìn vào thực trạng hạ tầng, mức độ thụ hưởng văn hóa ở vùng đồng bào DTTS và miền núi hiện nay.
Theo Báo cáo 3286/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, toàn vùng mới có 90,27% thôn có nhà văn hóa, mới có 94,19% hộ DTTS được xem truyền hình và 98,21% được nghe phát thanh…

Lưu ý của Bộ Chính trị và thực tế điều kiện tiếp cận dịch vụ văn hóa ở vùng đồng bào DTTS và miền núi, đã được các đại biểu Quốc hội khóa XVI thảo luận kỹ lưỡng khi cho ý kiến về một số cơ chế, chính sách phát triển văn hóa Việt Nam.
Chỉ ra thách thức, các đại biểu cũng kiến nghị giải pháp, để quyết sách của Quốc hội sau khi ban hành không chồng chéo với các cơ chế hiện hành.
Theo đại biểu Trần Thị Hoa Ry, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, mục tiêu thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền đang được thực thi qua nhiều chương trình, dự án triển khai ở vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Do đó, cơ chế, chính sách mới phải bảo đảm tính đồng bộ, tránh trùng lặp, chồng chéo hoặc bỏ sót đối tượng, địa bàn.
Hiệu quả của chính sách không chỉ được đo bằng số lượng dự án, công trình hay hoạt động được triển khai, mà quan trọng hơn là phải đo được mức độ lan tỏa, mức độ thụ hưởng văn hóa của người dân, khả năng bảo tồn di sản đang có nguy cơ mai một và việc chuyển hóa các giá trị văn hóa thành nguồn lực nội sinh, thành sinh kế bền vững cho cộng đồng”.
(Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Trần Thị Hoa Ry)
Bà Ry cho rằng, quan trọng là phải có cơ chế đủ mạnh để thu hút nguồn lực xã hội vào bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc gắn với phát triển du lịch, tạo sinh kế, tạo việc làm, nâng cao đời sống cho người dân tại chỗ.
Ở góc nhìn khác, đại biểu Hoàng Ngọc Định (Đoàn Tuyên Quang) cho rằng nhiều thiết chế văn hóa cơ sở đã được đầu tư nhưng hoạt động chưa thường xuyên, thiếu nội dung sinh hoạt, thiếu cơ chế vận hành hiệu quả.
“Cần có cơ chế vận hành phù hợp để thiết chế văn hóa cơ sở trở thành không gian sinh hoạt, thực hành và truyền dạy, nuôi dưỡng đời sống văn hóa cộng đồng”, ông Định đề nghị.
“Khơi thông điểm nghẽn” thụ hưởng văn hóa ở vùng khó khăn
Theo Báo cáo 3286/BC-BDTTG ngày 31/12/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, vùng đồng bào DTTS và miền núi hiện còn khoảng 34 nghìn hộ chưa được sử dụng điện lưới quốc gia và các nguồn điện khác phù hợp; còn khoảng 28% số thôn thuộc vùng chưa có đội văn hóa, văn nghệ (hoặc câu lạc bộ) truyền thống hoạt động thường xuyên, có chất lượng.
Điều này đặt ra yêu cầu phải phát triển văn hóa phù hợp với điều kiện thực tiễn từng vùng, miền. Trong Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026, Bộ Chính trị yêu cầu, phát triển văn hoá cần được tiến hành chủ động, tích cực, sáng tạo, kiên trì, thường xuyên và phù hợp với điều kiện thực tế khách quan.
“Cần chú trọng phát triển văn hóa ở vùng sâu, vùng xa và từng bước thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Công tác chiếu phim lưu động không nên chỉ chiếu những phim mà Cục Điện ảnh có sẵn, mà cần chiếu các nội dung Nhân dân cần”.
(Bà Trần Thị Phương Lan, Vụ trưởng Vụ Văn hóa, Văn nghệ - Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương)
Trên thực tế, ngành Văn hóa thời gian qua đã có nhiều nỗ lực nhằm nâng cao đời sống tinh thần cho Nhân dân ở những địa bàn vùng sâu, vùng xa.
Trong đó, hoạt động chiếu phim lưu động được tổ chức thường xuyên đã từng bước rút ngắn khoảng cách thụ hưởng văn hóa trong điều kiện hạ tầng thiết yếu còn thiếu thốn.
Đơn cử tại Thanh Hóa, toàn tỉnh có 1.462 đơn vị hành chính cấp thôn thuộc vùng đồng bào DTTS và miền núi. Theo thống kê, trên địa bàn tỉnh hiện vẫn còn 23 thôn chưa có điện lưới quốc gia, khoảng 20 thôn thuộc “vùng lõm” sóng điện thoại.
Để bù đắp sự thiếu hụt trong thụ hưởng văn hóa của người dân, Trung tâm Xúc tiến Du lịch và Văn hóa, Điện ảnh Thanh Hóa thường xuyên tổ chức các đoàn chiếu phim lưu động ở những địa bàn này. Năm 2025, đơn vị đã tổ chức 1.450 buổi chiếu, phục vụ 725 nghìn lượt người xem.

Hoạt động chiếu phim lưu động cũng được triển khai rộng khắp ở các địa phương trên cả nước. Theo thống kê, cả nước hiện có 162 đội chiếu phim lưu động, mỗi năm bình quân thực hiện hơn 28 nghìn buổi chiếu, phục vụ hàng triệu lượt khán giả, chủ yếu ở địa bàn vùng sâu, vùng xa.
Theo ông Đặng Trần Cường, Cục trưởng Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), với đồng bào vùng sâu, vùng xa, những buổi chiếu phim lưu động không chỉ đáp ứng nhu cầu giải trí mà còn gắn kết cộng đồng.
Tuy nhiên, khó khăn lớn hiện nay là cơ sở trang thiết bị còn thiếu, phần lớn đã xuống cấp, lạc hậu; nguồn phim phục vụ chưa đủ đáp ứng nhu cầu của Nhân dân…
Những hạn chế này kỳ vọng được tháo gỡ từ cơ chế ưu đãi đầu tư vào lĩnh vực văn hóa trong Nghị quyết 28/2026/QH16, nhất là các cơ chế ưu đãi sản xuất phim, phát hành phim, phổ biến phim.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đang dự thảo Nghị định quy định về phát hành, phổ biến phim phục vụ nhiệm vụ chính trị, tạo cơ sở pháp lý để thu hút nguồn lực xã hội đầu tư vào lĩnh vực văn hóa phục vụ địa bàn vùng sâu, vùng xa.
Khơi thông nguồn lực để văn hóa thực sự sống trong cộng đồng
Trong Nghị quyết 80-NQ/TW, Bộ Chính trị yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện tư duy về huy động mọi nguồn lực để phát triển văn hoá. Trong đó, nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nguồn lực xã hội, khu vực tư nhân là động lực quan trọng
Để khơi thông nguồn lực, theo Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Bùi Hoài Sơn, Nghị quyết số 80-NQ/TW đã chủ trương chính sách đặc thù, đột phá thúc đẩy hợp tác công – tư (PPP) trong lĩnh vực văn hóa.

“Nghị quyết đưa ra giải pháp triển khai mô hình lãnh đạo công - quản trị tư; đầu tư công - quản lý tư; đầu tư tư - sử dụng công đối với một số thiết chế văn hoá, thể thao; khuyến khích mô hình bảo trợ văn hoá, nghệ thuật trên cơ sở đóng góp tự nguyện, phi lợi nhuận; phát huy vai trò chủ thể và trách nhiệm xã hội của tổ chức, cá nhân trong hệ sinh thái văn hoá”, ông Sơn cho biết.
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, đây là một đột phá rất thực chất. Bởi giá trị của thiết chế văn hóa không nằm ở việc có công trình, mà ở khả năng biến công trình đó thành không gian sống của cộng đồng, nơi diễn ra sáng tạo, giáo dục, giao lưu và hưởng thụ văn hóa.
Có thể thấy, thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa không chỉ là câu chuyện đầu tư thiết chế hay tổ chức hoạt động, mà còn là quá trình khơi dậy và phát huy những giá trị văn hóa sẵn có trong cộng đồng.
Khi người dân được tiếp cận, tham gia và sáng tạo trong đời sống văn hóa, thì văn hóa mới thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển, góp phần thay đổi nhận thức, xóa bỏ hủ tục và nâng cao chất lượng cuộc sống.





