Dọc đường mưu sinh theo mùa nước nổi miền Tây: Nước về đến nơi, nhưng cá vẫn “đi lạc đường” (Bài 1)
Mờ sáng trên cánh đồng nơi biên giới Đồng Tháp, người kéo lưới, người gỡ cá, sau một đêm thức trắng, trên những tay lưới còn đọng nước là “lộc trời” mới bắt. Dù không nhiều, nhưng phần nào an ủi dân “vạn chài” vì nó mang về vài trăm nghìn đồng trang trải chi tiêu cho gia đình.
Theo lời nhiều người dân, những năm gần đây nước vẫn về, đồng vẫn ngập, người dân vẫn giăng lưới như bao đời nay, chỉ có điều cá tôm dường như “không còn tìm đúng đường về” với những cánh đồng.
Thức cùng con nước, chờ cá tìm về
2h sáng, trên cánh đồng nước nổi ven biên giới thuộc khóm Bình Hòa Trung, phường Thường Lạc, tỉnh Đồng Tháp, gió sớm thổi ào ào, mang theo cái mát lạnh đặc trưng của mùa nước. Ông Đặng Văn Đức (50 tuổi, ngụ phường Thường Lạc) cùng vợ lom khom thu tay lưới bắt cá.
Thành quả sau một đêm dài là hơn 40 kg cá, chủ yếu cá linh, cá heo, cá lìm kìm… Số cá được đem cân rồi bán trực tiếp tại điểm thu mua.
.jpg)
Cầm mấy trăm nghìn đồng trên tay, ông Đức bảo, với người làm nghề đánh bắt cá mùa nước nổi, những đồng tiền ấy không chỉ là tiền công của một đêm thức trắng, mắt mũi thì cay xè vì thiếu ngủ, mà còn là khoản thu nhập thiết thực để lo cho gia đình trong ngày.
“Năm nay nước về nhiều hơn nhưng không phải quá cao, cá đánh bắt được khá hơn năm trước. Nhưng nếu để so sánh thì vào mùa nước nổi mà cá tôm như vậy là ất ít. Có thể nước về đến nơi rồi, nhưng cá vẫn đi lạc đường”, ông Đức nói ví von, nhưng lại phản ánh khá rõ sự thay đổi về nghề mưu sinh của vùng đất đầu nguồn.
Cách đây hơn chục năm, một buổi giăng lưới có thể mang về cả khoang xuồng đầy cá. Những người sống lâu năm bên dòng nước vẫn nhớ từng mùa lũ, nhớ mực nước từng năm, nhớ những thời điểm nước bắt đầu tràn đồng và có khi dâng đến tận sàn nhà.
“Hồi xưa, tầm này là nước đụng sàn nhà rồi. Người ta phải gác đồ đạc lên cao, sắm ghe xuồng đi giăng lưới”, ông Đức kể.
Mùa nước nổi không đơn thuần là tự nhiên mà gần như là một phần của lịch sinh kế. Nước từ thượng nguồn Mekong tràn về, những cánh đồng lúa trở thành nơi sinh sống của cá linh, cá lóc, cá mè vinh… Người dân theo con nước đánh bắt, rồi mang cá về bán, làm mắm, chế biến thực phẩm.
Những căn nhà sàn cọc cao được dựng lên để thích nghi với nước. Ghe xuồng cập sát nhà, cá tôm theo dòng nước len vào ruộng. Nhưng những mùa nước “nhảy khỏi bờ” ấy giờ đã lùi dần vào ký ức.

Với vợ chồng ông Lê Minh Sang (55 tuổi) và bà Huỳnh Thị Quyến (55 tuổi), một đêm thức trắng trên đồng vừa qua mang về 22 kg cá, thu hơn 1 trăm nghìn đồng. Họ vẫn cười, bởi đánh bắt cá mùa nước nổi vừa là nguồn thu nhập, vừa là niềm vui đã gắn với cuộc sống từ nhiều năm.
“Chừng chục năm trước, nước lên ngập cả cái miếu ngoài đầu xóm. Đêm nằm trên nhà sàn nghe cá quẫy dưới gầm sàn mà ngủ không được. Sáng ra thả tay lưới chừng nửa tiếng là kéo lên cả chục ký cá linh tơ”, ông Sang kể trong sự hoài niệm về những mùa nước cũ.
Rồi ông chặc lưỡi: “Giờ giăng lưới từ đêm tới sáng, may ra mớ cá. Bình thường tầm này nhà có cá để u mắm rồi. Nhưng cá ít quá, nên cũng chưa ủ được”.

Ở căn nhà sàn của bà Nguyễn Thị Điểm (50 tuổi), từ 4 rưỡi sáng, xuồng đêm đã bắt đầu tìm đến. bà Điểm vừa bán cà phê, vừa làm điểm tập kết cá của người dân trong vùng. Người mang cá tới bán, người đến mua; một vài phụ nữ tranh thủ phụ bà Điểm làm cá để kiếm thêm tiền chợ.
Bà Điểm liên tục dùng điện thoại quay từng mớ cá vừa thu mua rồi đăng mạng xã hội và gửi cho khách ở An Giang, TP. Hồ Chí Minh...
“Giờ bán buôn cũng dễ hơn. Quay video lên, khách thấy ưng thì tới lấy hoặc mình chở đi. Cá mấy năm nay ít dần. Mong nước lên thêm thì cá mới về nhiều”, bà Điểm nói.

Điện thoại thông minh, những chuyến hàng đi xa và cách bán hàng trực tuyến đã len vào một sinh kế vốn tưởng chỉ phụ thuộc vào chiếc xuồng, tay lưới và con nước. Nhưng dù phương thức bán có thay đổi, câu hỏi cũ vẫn còn đó: nếu cá ngày càng ít thì người dân sẽ sống bằng gì?
Từ chờ “lộc trời” đến chủ động giữ cá
Rời điểm mua cá của bà Điểm, đến ấp Giồng Bàng, thuộc xã Thường Phước, tỉnh Đồng Tháp. Trước sân nhà ông Đặng Văn Bé (58 tuổi) không còn chất đầy dàn dớn, tay lưới hay những dụng cụ đánh bắt như nhiều hộ dân trong vùng.
Ông Bé đã bỏ nghề săn cá ngoài đồng, chuyển sang tham gia mô hình trữ cá đồng mùa nước nổi. “Cá tự nhiên về ít thì mình phải tự nuôi thôi”, ông Bé vừa rót trà vừa nói.
Mô hình được triển khai từ năm 2003, ban đầu chỉ vài thành viên. Đến nay đã có hơn 30 hộ dân cùng tham gia, quản lý khu vực trữ cá rộng khoảng 100 ha. Thời điểm đầu, mô hình được Nhà nước hỗ trợ 50% tiền vốn, các hộ thành viên góp vốn thêm 3 triệu để hoạt động và mua xuồng, ngư cụ.
Cách làm của Tổ hợp tác khá đơn giản. Khi nước bắt đầu lên, người dân quây lưới giữ cá trên đồng, đồng thời chuẩn bị khu vực ao để khi nước rút, cá được giữ lại. Thay vì đánh bắt ngay khi cá vừa theo nước vào đồng, họ để cá lớn dần rồi chủ động thu hoạch.

Cá được trữ từ khoảng tháng 7, tháng 8 năm trước đến tháng 4, tháng 5 năm sau. Khoảng thời gian này không chỉ giúp cá lớn hơn mà còn tạo điều kiện để người dân chủ động bán vào thời điểm giá tốt hơn so với đầu mùa nước nổi.
“Nước dâng thì cá phát triển theo nước, nước rút thì cá nằm lại trong ao. Khi nào cần bán thì mình bắt. Cách này khỏe hơn, không còn cảnh đi đánh bắt ngoài đồng mà trắng tay. Nếu năm nào ít cá thì tổ sẽ mua cá giống thả nuôi thêm”, ông Bé chia sẻ.
Điều đáng nói, đa số thành viên của mô hình vẫn làm ruộng, mỗi năm canh tác 2 vụ. Khi mùa nước đến, họ tận dụng đồng ruộng để trữ cá.
“Nước về thì ruộng ngâm đó để cũng chẳng làm gì, nên tham gia tổ hợp tác thì mang thêm thu nhập, bà con cũng vui vẻ. Ngày trước cá nhiều lắm, nhưng rồi giảm thấy rõ vì khai thác cạn kiệt. Mình sống sự vào con nước nên cũng phải dần thay đổi để bảo vệ nó”, ông Bé phân tích.
-162cb1b98cf11e1e9d37bc29d3876dd2.jpg)
Ở vùng biên giới ven sông Tiền, nhiều người vẫn giăng lưới, đặt lợp, đánh bắt cá tự nhiên và chờ con nước mang theo sản vật. Với họ, mùa nước nổi vẫn là một phần ký ức, tập quán và sinh kế không dễ thay đổi trong ngày một ngày hai.
Nhưng cùng với đó, ngày càng có thêm những cách làm mới. Người nuôi cá lồng bè, người quây lưới giữ cá đồng, người tận dụng đồng ruộng mùa nước để phát triển các mô hình thủy sản phù hợp. Điểm chung của họ là không còn muốn đặt toàn bộ sinh kế vào “lộc trời”.
Bởi người dân vùng rốn lũ hiểu rằng, không thể bắt con nước trở lại như ký ức. Nước vẫn sẽ về theo quy luật của dòng sông, nhưng thời điểm, mực nước và nguồn lợi đi cùng nó đã khác.
Mặt trời đã lên cao, trên cánh đồng ven biên giới, những chiếc xuồng lặng lẽ xuôi theo dòng nước. Có người tiếp tục thả lưới, có người thì chở về. Con nước vẫn chảy, chỉ có cách con người sống cùng nó đang dần đổi khác.
Đó là cách những người dân miền Tây Nam Bộ học cách đi tiếp khi “lộc trời” không còn nhiều như trước. Bà con dần không chờ thiên nhiên mang tất cả đến tận cửa nhà, mà chủ động giữ lấy những gì có thể, để nuôi dưỡng nguồn lợi, tìm một sinh kế bền vững.


