Đồng bào Mnông “ăn lán, giữ rừng”
Gần 30 năm qua, người Mnông ở bon Bu N’đơr B, xã Tuy Đức, tỉnh Lâm Đồng vẫn thay nhau dựng lán, lặng lẽ giữ màu xanh của rừng, giữ tài sản, giữ sinh kế...

“Xung phong” vào rừng giữ tài sản của cha ông
Trời vừa hửng sáng, ông Điểu Nơi, dân tộc Mnông cùng các thành viên Ban Quản lý rừng cộng đồng bon Bu N’đơr B đã chuẩn bị dao phát, cơm nắm, võng và vài vật dụng cần thiết để đi rừng. Với họ, chuyện “ăn lán, ngủ rừng” đã trở thành công việc quen thuộc suốt hàng chục năm qua.
Ông Điểu Nơi, Trưởng Ban Quản lý rừng cộng đồng bon Bu N’đơr B cho biết: Bon Bu N’đơr B là nơi sinh sống lâu đời của đồng bào Mnông. Việc giữ rừng không phải khi nhận khoán mới có, mà bao đời nay bà con giữ rừng bằng ý thức và luật tục.
Người Mnông xem rừng là không gian sống, mái nhà chung, là nơi gắn với phong tục, tập quán và sinh kế của cộng đồng. Rừng cho nước, cho củi, cho măng, lá bép, đọt mây, nấm; đồng thời cũng là nơi lưu giữ những câu chuyện, tập quán và đời sống tinh thần của người Mnông.
“Người Mnông sống gắn với rừng “ăn rừng, ở rừng”, nên mất rừng cũng giống như mất đi một phần cuộc sống. Việc giữ rừng cộng đồng đã đưa vào hương ước, quy ước của bon qua bao thế hệ, với những quy định rất chặt chẽ. Giữ rừng là giữ tài sản ông bà để lại, giữ cho thế hệ mai sau, nên mọi gia đình đều phải có trách nhiệm. Ai xâm hại rừng đều bị cộng đồng nhắc nhở, phê bình”, ông Điểu Nơi nói.
Khi có đơn vị nghiên cứu và triển khai mô hình cộng đồng quản lý, bảo vệ rừng, bà con bon Bu N’đơr B xung phong tham gia. Ban Quản lý rừng cộng đồng bon Bu N’đơr B được thành lập năm 1999, với 23 thành viên. Ban nhận khoán quản lý, bảo vệ hơn 1.000ha rừng trên địa bàn xã Tuy Đức. Để bảo vệ rừng, Ban phân công cụ thể từng thành viên phụ trách từng khu vực.
Theo đó, hằng tuần, các tổ thay nhau đi tuần tra, kiểm tra các khu vực dễ xảy ra tình trạng chặt phá, lấn chiếm đất rừng. Mỗi chuyến tuần tra thường kéo dài từ một đến vài ngày, khi thì băng qua suối, lúc leo đồi dốc. Khi đi xa, mọi người dựng lán tạm giữa rừng, nấu cơm, ngủ lại để sáng hôm sau tiếp tục tuần tra.
Anh Điểu Phên, thành viên Ban Quản lý rừng cộng đồng bon Bu N’đơr B cho biết: Gần 30 năm qua, chúng tôi vào rừng đều đặn hằng tuần. Nếu phát hiện người lạ chặt cây, phát rẫy hoặc lấn chiếm đất rừng, các thành viên đều lập biên bản, báo cho Kiểm lâm và chính quyền địa phương xử lý.
Có những lần đang đi tuần tra, anh em phát hiện người ngoài mang cưa máy vào rừng. Mọi người phải kịp thời ngăn chặn rồi báo lực lượng chức năng. Nhờ bám rừng thường xuyên, nhiều năm liền diện tích rừng cộng đồng được giữ vững.
“Dù việc tuần tra vất vả, mùa mưa thì đường trơn, nước suối lớn, nhiều hôm đi từ sáng đến tối vẫn chưa về tới nhà. Mùa khô lại lo cháy rừng, người ngoài vào phá. Vậy nhưng không ai bỏ cuộc. Nếu không bám rừng thường xuyên, thì rất khó giữ được diện tích rừng như bây giờ”, anh Phên bảo.

Giữ rừng là giữ sinh kế
Không chỉ là tài sản tinh thần, cánh rừng hơn 1.000ha này còn là nguồn sống của nhiều hộ dân ở bon Bu N’đơr B.
Trước đây, đời sống của bà con chủ yếu dựa vào nương rẫy, trồng lúa, bắp, điều và chăn nuôi nhỏ lẻ. Mỗi lần vào rừng tuần tra, nhiều người phải gác lại công việc gia đình, chấp nhận mất một phần thu nhập.
Năm 2013, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được triển khai đã tiếp thêm động lực cho người dân tham gia giữ rừng. Mỗi quý, thành viên Ban Quản lý rừng cộng đồng bon Bu N’đơr B được nhận từ 3 đến hơn 4 triệu đồng. Bình quân mỗi người có thêm hơn 1 triệu đồng mỗi tháng.
Anh Điểu Phên bộc bạch: “Số tiền không lớn nhưng là nguồn động viên rất quý. Mình vừa bảo vệ được tài sản của ông bà, vừa có thêm tiền lo cho gia đình. Có tiền mua gạo, mua sách vở cho con, nên ai cũng vui và càng có trách nhiệm với rừng hơn”.
Ngoài tiền nhận khoán bảo vệ rừng, người dân còn được khai thác hợp lý một số sản vật tự nhiên dưới tán rừng như măng, lá bép, đọt mây, nấm, mật ong… Đây là nguồn thực phẩm quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày, đồng thời cũng giúp nhiều hộ có thêm thu nhập.
Nhờ rừng được giữ tốt, nguồn nước sinh hoạt và sản xuất của người dân trong bon cũng ổn định hơn. Những con suối đầu nguồn không bị cạn kiệt vào mùa khô như trước.
Theo UBND xã Tuy Đức, toàn xã hiện có gần 4.700ha rừng. Trong đó, phần lớn diện tích được giao cho 4 Ban Quản lý rừng cộng đồng trực tiếp quản lý, bảo vệ.
Ông Trần Văn Sĩ, Chủ tịch UBND xã Tuy Đức đánh giá, mô hình giao rừng cho cộng đồng đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Người dân vừa là chủ rừng, vừa là lực lượng nòng cốt trực tiếp bảo vệ rừng, nên ý thức và trách nhiệm được nâng lên.
Nhiều hộ dân ở bon Bu N’đơr B đã trở thành những “người giữ rừng” thực thụ. Dù tiền dịch vụ môi trường rừng còn thấp, điều kiện tuần tra còn khó khăn, nhưng bà con vẫn bền bỉ bám rừng suốt nhiều năm qua.




