Giữ “hạt giống đỏ” của Đảng ở vùng cao xứ Nghệ:Nguồn kế cận ở bản làng đã đổi khác (Bài 1)
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, địa bàn rộng hơn, trong khi lực lượng trẻ tại chỗ mỏng hơn, khiến bài toán tạo nguồn phát triển đảng viên kế cận không còn chỉ là “tìm người” mà phải nhìn xa hơn vào khả năng giữ nguồn.
LỜI TÒA SOẠN
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, sự thay đổi về không gian quản lý đã đặt công tác xây dựng tổ chức Đảng và phát triển đảng viên ở cơ sở trước những yêu cầu mới.
Từ những mô hình phát triển đảng viên ở miền núi Nghệ An cho thấy một yêu cầu xuyên suốt: Không chỉ bảo đảm số lượng đảng viên, mà phải xây dựng được nguồn kế cận đủ năng lực, có sự gắn bó với bản làng và từng bước trưởng thành để đảm nhận công việc ở cơ sở.
Báo VietNamNet trân trọng giới thiệu loạt bài “Giữ ‘hạt giống đỏ’ của Đảng ở vùng cao xứ Nghệ”, ghi nhận những cách làm, những khó khăn và bài toán đặt ra trong công tác phát triển đảng viên ở miền núi Nghệ An hiện nay.

Nguồn kế cận đã khó, lại dễ “tuột khỏi tay”
Ở xã Sơn Lâm, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Trần Đình Tâm nhớ rõ những quần chúng ưu tú từng được các Chi bộ bồi dưỡng, theo dõi để phát triển Đảng. Đó là, Lương Hoài Linh (SN 2002) và Lương Văn Mùi (SN 2003) cùng ở bản Tân Ngọc; Mạc Thị Thùy (SN 2006) và Vi May Hai (SN 2002) cùng ở bản Tân Lâm; Vi Ngọc Hoàng (SN 2004) ở bản Bình Yên… đều là những thanh niên có triển vọng.
Nhưng khi quá trình bồi dưỡng đang được thực hiện, Lương Hoài Linh và Mạc Thị Thùy cùng rời quê đi nước ngoài từ 1/2026; Lương Văn Mùi đi nước ngoài từ 7/2025. Còn 2 thanh niên Vi Ngọc Hoàng, đã có giấy chứng nhận lớp nhận thức về Đảng, nhưng đi làm Công ty ở miền Nam từ năm 2022.
Vi May Hai, đã có giấy chứng nhận lớp nhận thức về Đảng, cũng rời quê đi làm Công ty ở miền Nam từ 6/2026. Những bước chuẩn bị cho việc kết nạp đảng viên vì thế phải dừng lại.
Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Sơn Lâm Trần Đình Tâm cho biết, việc đi làm ăn xa, không sinh hoạt thường xuyên trên địa bàn khiến quá trình theo dõi, bồi dưỡng bị gián đoạn. “Việc tạo nguồn kết nạp Đảng bây giờ rất khó khăn”, ông Tâm chia sẻ.

Cái khó ở Sơn Lâm không chỉ là tìm một người có phẩm chất, năng lực và uy tín trong cộng đồng. Ngay cả khi đã phát hiện được quần chúng ưu tú, quá trình phấn đấu vẫn có thể bị gián đoạn bởi một lý do rất thực tế: Người trẻ phải rời quê để mưu sinh.
Ở xã Hữu Khuông - vùng lòng hồ bản Vẽ, Xồng Bá Tới (SN 2003), trú tại bản Chà Lâng, cũng từng được theo dõi, chuẩn bị các bước để kết nạp Đảng. Nhưng khi rời quê đi làm ăn xa, quá trình ấy phải dừng lại.
Tại bản Đoọc Mạy, xã Na Loi, đang có quần chúng Già Bá Công, đã học xong lớp nhận thức về Đảng, nhưng sau đó rời quê đi làm ăn khiến quá trình theo dõi, bồi dưỡng bị gián đoạn.

Thực tế này đang cho thấy, một thay đổi đáng chú ý trong công tác tạo nguồn ở bản làng vùng cao. Trước đây, khó khăn thường được nhìn từ việc phát hiện, vận động, bồi dưỡng một quần chúng ưu tú. Nay, ngay cả khi đã tìm được người, tổ chức vẫn phải đối mặt với câu hỏi: Làm thế nào để quá trình phấn đấu không bị đứt quãng khi người ấy rời địa phương?
Đây không phải câu chuyện của riêng một bản, một xã. Xã Hữu Kiệm hiện có khoảng 3.000 lao động; Bắc Lý gần 1.300 lao động; Lượng Minh có 1.125 lao động; Na Ngoi hơn 1.400 lao động… đi làm ăn xa.
Xã Hữu Kiệm có khoảng 3.000 lao động đi làm ăn xa, xã Bắc Lý có 1.287 lao động ngoài địa phương, xã Lượng Minh có 1.125 lao động đi làm ăn xa... Đây là những địa bàn cho thấy bài toán tạo nguồn hiện nay gắn trực tiếp với dịch chuyển lao động.
Trước hết, điều này phản ánh nhu cầu tìm việc và cải thiện thu nhập của người dân. Nhưng với công tác xây dựng Đảng ở cơ sở, phía sau những con số lao động còn là một nguồn lực của bản làng đang ở ngoài địa bàn.
Bí thư Đảng ủy xã Mỹ Lý Nguyễn Anh Đoài cho biết, thanh niên có trình độ, năng lực cơ bản đều đi làm công ty hoặc làm ăn xa. Tại các bản, nhiều người trẻ ở lại chưa đáp ứng yêu cầu về trình độ văn hóa hoặc chưa có động lực phấn đấu vào Đảng.

Ảnh: V.P
Nghịch lý của nguồn kế cận vì thế ngày càng rõ: Những người có năng lực, có sức khỏe, có trình độ lại thường là những người có nhiều cơ hội rời bản sớm nhất.
Từ “đủ số lượng” đến một lớp người kế cận
Sau sắp xếp, Nghệ An có 79 xã, phường thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, gồm 3 đơn vị khu vực I, 25 khu vực II và 51 khu vực III. Toàn tỉnh có 669 Chi bộ vùng đồng bào DTTS và miền núi, với 206.974 đảng viên, trong đó 28.053 đảng viên là người DTTS.
Theo Ban Tổ chức Tỉnh ủy Nghệ An, điểm nghẽn lớn hiện nay là lực lượng thanh niên có trình độ sau THPT, cao đẳng, đại học phần lớn lựa chọn đi làm tại các khu công nghiệp ngoại tỉnh hoặc xuất khẩu lao động. Trong khi đó, một bộ phận thanh niên ở lại gặp rào cản về trình độ, nhận thức hoặc động lực phấn đấu.
Ban Tổ chức Tỉnh ủy gọi đây là nghịch lý: “người có năng lực thì rời bản đi xa, người ở lại thì không đủ tiêu chuẩn để bồi dưỡng kết nạp vào hàng ngũ của Đảng”.
Đó là một nền tảng tổ chức được gây dựng qua nhiều năm. Nhưng nền tảng ấy không đồng nghĩa bài toán nguồn kế cận đã được giải quyết.
Xã Hùng Chân được thành lập trên cơ sở sáp nhập các xã Châu Hoàn, Diên Lãm và Châu Phong. Từ 23 chi bộ trước đây, sau sắp xếp còn 15 chi bộ.
Tại bản Đôm, Chi bộ mới được hình thành từ việc hợp nhất ba Chi bộ bản Đôm 1, Đôm 2 và bản Luồng. Bí thư Chi bộ Bùi Thị Phúc cho biết, địa bàn rộng hơn, công việc nhiều hơn, trong đó có việc tìm nguồn đảng viên.
Sắp xếp tổ chức giúp bộ máy phù hợp với không gian hành chính mới, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu mới về nắm dân, nắm nguồn.

Một cấp ủy viên có thể phải theo dõi nhiều bản hơn. Một chi bộ phải vận động nhân dân trong không gian rộng hơn. Trong khi đó, nguồn trẻ lại dịch chuyển theo việc học, việc làm. Vì vậy, nếu chỉ nhìn vào số quần chúng ưu tú đang có mặt tại bản ở một thời điểm, bức tranh về nguồn sẽ không đầy đủ.
Tìm hiểu ở xã Nậm Cắn, khi cấp ủy chủ động, nguồn vẫn có thể được mở rộng. Năm 2026, xã được giao chỉ tiêu kết nạp 12 đảng viên; đến tháng 9 đã kết nạp 13 người, đều là người DTTS, trong đó có 5 nữ và 10 lao động tự do.
Nhưng câu hỏi lớn hơn không chỉ là 1 năm kết nạp được bao nhiêu người.
Ở Lượng Minh, địa phương đã kết nạp 8 đảng viên mới. Tuy nhiên, có những đảng viên như Lữ Thị Hải, Lô Thị Hằng sau khi kết nạp lại rời quê đi làm thuê tại các công ty.

Điều này cho thấy, nguồn có thể được tạo ra, nhưng nếu không có cách theo dõi và duy trì mối liên hệ thì nguồn vẫn có thể tiếp tục dịch chuyển khỏi địa bàn.
Ban Tổ chức Tỉnh ủy cũng xác định yêu cầu, phải chuyển từ cách làm thiên về chỉ tiêu sang chủ động xây dựng cơ sở dữ liệu nguồn quần chúng; xác định từng nhóm đối tượng và gắn trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức, cá nhân với kết quả tạo nguồn.
Một quần chúng ưu tú được phát hiện nhưng rời địa phương giữa quá trình bồi dưỡng thì nguồn có thể mất. Một đảng viên trẻ được kết nạp nhưng không có môi trường rèn luyện cũng khó trở thành cán bộ kế cận.
Sau sắp xếp, yêu cầu đặt ra với tổ chức Đảng ở bản làng vì thế không chỉ là tạo đủ nguồn. Đó còn là nhìn thấy nguồn sớm hơn, theo dõi lâu hơn và không để khoảng cách địa lý làm mất đi một quá trình phấn đấu. Bài toán ấy không thể giải quyết chỉ bằng một mùa kết nạp.


