Công tác Dân tộc

Gỡ nút thắt thể chế, khơi dòng chảy chính sách

Sỹ Hào • 03/11/2026 06:00

Sau hơn 23 năm thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW (2003 - 2026), công tác dân tộc đã được thể chế hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Nhưng những điểm nghẽn về tính đồng bộ, thống nhất, tình trạng chồng chéo và bất cập trước thực tiễn đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tháo gỡ nút thắt thể chế, khơi thông dòng chảy chính sách, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho công tác dân tộc trong giai đoạn mới.

thay.jpg
Kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khóa XIV ngày 18/11/2019 thông qua Nghị quyết số 88/2019/QH14 phê duyệt “Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2030”. Ảnh: Doãn Tấn /TTXVN

Từ nền tảng pháp lý đến những quyết sách mang tính tổng thể

Ngày 12/3/2003, tại Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc (Nghị quyết 24), xác định công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, các cấp, các ngành và toàn bộ hệ thống chính trị. Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Kết luận 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 24.

Trên cơ sở chủ trương của Đảng, việc thể chế hóa công tác dân tộc từng bước được đẩy mạnh, trong đó Hiến pháp năm 2013 là một dấu mốc quan trọng.

Bên cạnh việc hiến định các quyền cơ bản như bình đẳng giữa các dân tộc, bình đẳng trước pháp luật, tự do tín ngưỡng, tôn giáo…, Hiến pháp năm 2013 còn có 20 điều khoản quy định liên quan đến lĩnh vực dân tộc, tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng và thực thi chính sách dân tộc.

“

Trong Kế hoạch số 64/KH-UBTVQH16 ngày 22/5/2026 về triển khai thực hiện Kết luận số 17-KL/TW của Bộ Chính trị và Đề án “Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV”, để hoàn thiện pháp luật về dân tộc, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ sớm đề xuất hình thức văn bản quy phạm pháp luật (luật hoặc nghị quyết) trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến và xây dựng hồ sơ, trình Quốc hội xem xét vào năm 2029.

(Báo cáo số 567/BC-HĐDT16 ngày 24/9/2026 của HĐDT của Quốc hội)

Trong Báo cáo số 567/BC-HĐDT16 ngày 24/9/2026 về tổng kết Nghị quyết 24, Hội đồng Dân tộc (HĐDT) của Quốc hội khẳng định, việc thể chế hóa nội dung Nghị quyết 24 trong Hiến pháp là cơ sở pháp lý vững chắc để đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc được khẳng định trong thực tiễn. Những quy định liên quan về lĩnh vực dân tộc trong Hiến pháp đã từng bước được luật hóa.

Theo kết quả rà soát của HĐDT của Quốc hội, tính đến tháng 8/2026 có 81 nghị quyết, pháp lệnh và 157 luật đang có hiệu lực có các nội dung liên quan đến lĩnh vực dân tộc, trong đó có 156 luật được ban hành từ năm 2004 đến nay. Đáng chú ý, đại đa số văn bản được ban hành sau khi có Kết luận 65-KL/TW (114 luật, chiếm 72,6% và 76 pháp lệnh, nghị quyết, chiếm 93,8%).

Báo cáo của HĐDT của Quốc hội nhấn mạnh, những văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đã thể chế hóa các quan điểm, nhiệm vụ lớn của Nghị quyết 24, Kết luận 65-KL/TW và các nghị quyết của Đảng về lĩnh vực dân tộc. Trong đó, kết quả thể chế hóa nổi bật nhất là đã hình thành nền tảng pháp lý, mở rộng độ bao phủ của luật chuyên ngành và chuyển chủ trương phát triển vùng đồng bào DTTS và miền núi thành quyết sách lớn của Quốc hội.

Đặc biệt, yêu cầu giải quyết các vấn đề cấp thiết về đất ở, đất sản xuất, nhà ở, nước sinh hoạt, sắp xếp dân cư, hạ tầng thiết yếu và sinh kế ở vùng đồng bào DTTS và miền núi trong Nghị quyết 24 đã được cụ thể hóa đầy đủ qua Nghị quyết số 88/2019/QH14, Nghị quyết số 120/2020/QH14 và Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2030.

Đây là quá trình thay đổi quan trọng từ nhiều chính sách nhỏ lẻ sang một quyết định chính sách tổng thể, đa ngành, có mục tiêu, dự án thành phần, nguồn lực trung hạn và cơ chế giám sát của Quốc hội.

anh thay TRANG 17
Thứ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Y Vinh Tơr kiểm tra thực tế một số công trình, dự án thuộc Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi tại xóm Đức Xuân, xã Hòa An, tỉnh Cao Bằng

Những “điểm vênh” trong thực hiện chính sách dân tộc

Theo đánh giá của HĐDT của Quốc hội, hệ thống pháp luật về lĩnh vực dân tộc đã bao phủ mọi mặt đời sống xã hội ở vùng đồng bào DTTS và miền núi; cơ chế bảo đảm chính sách dân tộc trong quy trình lập pháp cũng đã được luật hóa trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Đây là cơ sở pháp lý cốt lõi để tiếp tục rà soát, đánh giá sự phù hợp của các chính sách để đề xuất sửa đổi, bổ sung chính sách, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và kiến nghị của đồng bào DTTS.

Tuy nhiên, với nguyên tắc luật chỉ quy định chính sách khung, mang tính nguyên tắc và giao Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thực hiện dẫn đến số lượng văn bản về lĩnh vực dân tộc được ban hành sẽ rất lớn. HĐDT của Quốc hội cho rằng, nếu không được hệ thống theo quy định, tiêu chí thống nhất có thể sẽ dẫn đến chồng chéo, trùng lặp, bị bỏ sót hoặc mâu thuẫn với nhau.

“

Chương trình MTQG tích hợp giai đoạn 2026 - 2035 và thay đổi cơ cấu cơ quan thực hiện đặt ra yêu cầu giám sát mới. Nếu thiếu chỉ số và dữ liệu riêng, mục tiêu CSDT có thể bị hòa tan trong mục tiêu chung; nếu phân cấp không đi kèm năng lực, nguồn lực và kiểm soát quyền lực, gánh nặng sẽ chuyển xuống cấp xã; khi tiêu chí thay đổi thường xuyên, địa phương khó lập kế hoạch trung hạn và người dân khó dự đoán quyền lợi.

(Báo cáo số 567/BC-HĐDT16 ngày 24/9/2026
của HĐDT của Quốc hội)

Trên thực tế đã xảy ra những “va đập” giữa các quy định trong thực hiện chính sách dân tộc. Điển hình như chính sách giao đất không thu tiền sử dụng đất lần đầu cho đồng bào DTTS theo Luật Đất đai năm 2024 đang “vênh” với quy định miễn giảm tiền sử dụng đất tại Nghị định số 103/2024/NĐ-CP.

Cụ thể, khoản 2, điều 16 Luật Đất đai 2024 quy định chỉ có cá nhân là người DTTS thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo được miễn, giảm tiền sử dụng đất (quy chiếu theo đối tượng). Nhưng theo Nghị định số 103/2024/NĐ-CP về miễn giảm tiền sử dụng đất, không chỉ người DTTS mà hộ nghèo, hộ cận nghèo dân tộc Kinh ở địa bàn đặc biệt khó khăn cũng được thụ hưởng chính sách (quy chiếu theo địa bàn).

Đặc biệt, hiện nay một số văn bản về phân định vùng đặc biệt khó khăn và khó khăn chưa có sự thống nhất. Nghị định số 272/2025/NĐ-CP phân định xã vùng đồng bào DTTS và miền núi theo 3 khu vực (trong đó khu vực III là xã đặc biệt khó khăn), nhưng Nghị định số 96/2026/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư lại quy định xã khu vực II và khu vực III thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, còn khu vực I là xã khó khăn để hưởng cơ chế ưu đãi.

Theo đánh giá của HĐDT của Quốc hội, việc quy định khác nhau về mức độ khó khăn giữa phân định xã theo trình độ phát triển và xác định địa bàn ưu đãi đầu tư gây khó khăn và có cách hiểu khác nhau khi xây dựng và áp dụng chính sách.

Đặc biệt là việc thiết kế, thực thi các chính sách về an sinh xã hội chỉ ưu tiên đối với xã khu vực III, trong khi xã khu vực II cũng thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhưng không được áp dụng.

a4t16.jpg
Đoàn công tác Bộ Dân tộc và Tôn giáo kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn xã Lai Đồng, tỉnh Phú Thọ tháng 7/2026

Thống nhất quy định để bảo đảm quyền lợi của đồng bào

Những “điểm vênh” trong thực hiện chính sách dân tộc là một trong những nguyên nhân dẫn đến kết quả phát triển vùng đồng bào DTTS và miền núi còn hạn chế, chưa đồng đều và thiếu bền vững.

Hiện tỷ lệ nghèo đa chiều trong đồng bào DTTS cao gấp 6,28 lần bình quân chung cả nước, những nhu cầu bức thiết (đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt…) chưa được giải quyết triệt để.

Kết quả Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 DTTS năm 2024 cho thấy, Việt Nam có khoảng 14,8 triệu người DTTS, chiếm khoảng 14,6% dân số cả nước.

Quy mô dân số, phân bố rộng và mức độ khác biệt giữa các dân tộc đòi hỏi phải chuyển từ chính sách bình quân sang chính sách phân hóa theo dữ liệu, vừa theo địa bàn, vừa theo thành phần dân tộc và mức thiếu hụt, không để người DTTS cư trú ngoài địa bàn phân định bị bỏ sót.

Theo HĐDT của Quốc hội, vùng đồng bào DTTS và miền núi cần được nhìn nhận đồng thời là địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh, môi trường, văn hóa và là không gian phát triển mới. Vì vậy, chính sách giai đoạn mới phải thiết lập cơ chế để cộng đồng có quyền tham gia, được chia sẻ lợi ích công bằng và phát triển năng lực làm chủ các cơ hội này, thay vì chỉ nhận hỗ trợ sau khi tài nguyên đã được khai thác.

Đặc biệt, trong bối cảnh không gian số mở rộng cơ hội học tập, kinh doanh, dịch vụ công nhưng cũng làm gia tăng nguy cơ thông tin sai lệch, lừa đảo, mất an toàn dữ liệu và gia tăng khoảng cách kỹ năng.

Các vấn đề dân số, tảo hôn, sức khỏe bà mẹ và trẻ em, chất lượng giáo dục, việc làm cho thanh niên, bảo tồn ngôn ngữ và văn hóa cần cách tiếp cận liên ngành, phân hóa theo từng dân tộc và địa bàn.

Những “điểm nghẽn” và kiến nghị từ báo cáo của HĐDT của Quốc hội đặt ra yêu cầu hoàn thiện thể chế về công tác dân tộc.

Khi pháp luật thống nhất, nguồn lực được phân bổ đúng trọng tâm và đồng bào thực sự trở thành chủ thể của phát triển, những nút thắt thể chế mới được tháo gỡ, khơi thông dòng chảy chính sách, tạo động lực phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS và miền núi trong giai đoạn mới.

    Gỡ nút thắt thể chế, khơi dòng chảy chính sách
    • Mặc định