Tết Độc lập trong ký ức người Mông nơi rẻo cao xứ Nghệ
Với người Mông nơi rẻo cao xứ Nghệ, Tết Độc lập không chỉ là ngày hội. Đó còn là dịp những câu chuyện về mùa Thu năm 1945 được người già kể lại, để ký ức về ngày đất nước độc lập tiếp tục đi cùng hành trình giữ bản, giữ đất và dựng xây cuộc sống hôm nay.

Lá cờ trước hiên nhà và ký ức mùa Thu năm ấy
Sáng cuối tháng 8, trước căn nhà gỗ ở bản Mường Lống 1, xã Mường Lống, ông Lầu Bá Trỉa (47 tuổi) chọn một cây tre thẳng, cùng con cháu cẩn thận buộc lá cờ Tổ quốc rồi dựng trước hiên.
Gió từ núi cao thổi xuống, lá cờ đỏ tung lên trên mái nhà giữa đại ngàn.
Ông Trỉa đứng nhìn một lúc rồi nói: Cắm lá cờ Tổ quốc lên, trong tâm khảm tự nhiên rộn lên niềm tự hào. Có được độc lập, tự do hôm nay là cả những năm tháng đánh đổi bằng máu xương của biết bao người.
Ông Trỉa sinh ra khi đất nước đã giành độc lập. Những câu chuyện về Cách mạng Tháng Tám, về ngày Quốc khánh 2/9 được ông nghe từ cha mình và những người già trong bản.
Ở Mường Lống, ký ức về mùa Thu năm 1945 không chỉ nằm trong sách vở. Nó được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bên bếp lửa, trong những ngày hội lễ của bản làng.

Cụ Và Nhìa Hờ (SN 1933), ở bản Mường Lống 2, là một trong những người vẫn còn nhớ những câu chuyện ấy. Năm 1945, cụ Hờ mới 12 tuổi. Mường Lống khi đó là vùng núi cao heo hút, đường sá cách trở. Tin tức từ miền xuôi lên bản phải theo bước chân cán bộ rồi truyền từ người này sang người khác.
Bên bếp lửa lúc chiều muộn, cụ Hờ chậm rãi nhớ lại: Cả bản nghe cán bộ dưới xuôi lên bảo cả nước đang vùng lên giành chính quyền về tay nhân dân.
Cậu bé Hờ khi ấy chưa hiểu hết hai chữ “độc lập”, nhưng nhớ rõ niềm vui của người lớn. Câu chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 cũng theo những người cán bộ vào tận bản.
“Đồng bào ai cũng mừng vì bây giờ được độc lập, tự do”, cụ Hờ kể.
Điều còn đọng lại trong ký ức cụ sau hơn 80 năm không phải những con số hay sự kiện lớn, mà là những việc rất gần với cuộc sống. Cán bộ vận động người dân làm rẫy, chăn nuôi để thoát đói nghèo; trẻ em được khuyến khích đến lớp để xóa giặc dốt.

“Bà con nghe và thấy lời Bác Hồ nói, lời Đảng nói rất đúng cái bụng”, cụ Hờ cười.
Từ một cậu bé tham gia đội du kích thanh niên, cụ Hờ trưởng thành, làm cán bộ xã phụ trách nông nghiệp và được kết nạp Đảng năm 1963. Suốt nhiều thập kỷ sau đó, ông vận động người dân định canh định cư, cho con em đi học, bài trừ hủ tục, phát triển sản xuất.
Cách Mường Lống không xa, cụ Vừ Giống Dênh (SN 1919), ở bản Huồi Giảng, xã Mường Xén, lại mang một ký ức khác về những năm tháng đầu của chính quyền cách mạng.
Năm 1945, cụ Dênh 27 tuổi, tham gia đội dân quân giữ yên bản làng.
“Ở vùng rẻo cao, chúng tôi rất vui, phấn khởi vì nước nhà độc lập, dân tự do”, cụ Dênh trầm tư nhớ lại.
Nhưng niềm vui ấy nhanh chóng đi cùng những năm tháng không bình yên.
Phỉ Châu Ngà hoạt động ở vùng biên, tìm cách lôi kéo đồng bào chống phá chính quyền. Cụ Dênh tham gia công tác an ninh, dân quân hỏa tuyến, phụ trách các tuyến đường ở xã Mường Ải và sang nước bạn Lào.
“Chúng tôi tuyên truyền, vận động bà con, thanh niên không nghe theo lời xúi giục, phải bám bản, bám đất biên cương để làm ăn”, cụ kể.
Với những người như cụ Hờ, cụ Dênh, “độc lập” khi ấy không phải khái niệm xa xôi. Nó hiện diện trong việc giữ bản làng bình yên, giữ đất, giữ người và từng bước giúp đồng bào có cuộc sống tốt hơn.
Từ giữ bản, giữ đất đến dựng xây cuộc sống
Những ngày cuối tháng 8, không khí Tết Độc lập đã rộn ràng trên các bản người Mông. Cờ Tổ quốc được treo trước hiên nhà. Khi người già, trẻ nhỏ cùng sửa soạn trang phục truyền thống thì đâu đó tiếng khèn gọi bạn réo rắt từ trong những thung sâu của núi rừng biên cương vọng về.
Tết Độc lập vì thế không chỉ là một ngày lễ. Với nhiều gia đình, đó còn là dịp nhắc lại câu chuyện của cha ông và nhìn lại những đổi thay của bản làng.

Chủ tịch UBND xã Mường Lống Phạm Văn Hòa cho biết, địa phương tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, đồng thời tuyên truyền về ý nghĩa Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 để người dân, nhất là thế hệ trẻ, hiểu hơn về lịch sử quê hương.
Tại xã Na Ngoi, ông Lầu Bá Chò, Bí thư Đảng ủy xã, cho biết vào dịp Quốc khánh, bà con các bản thường tổ chức múa hát, chọi bò, ném pao...
“Những năm gần đây, an ninh biên giới được đảm bảo, đời sống ngày càng nâng cao nên bà con rất phấn khởi, tin tưởng hơn vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”, ông Chò nói.
Trong câu chuyện của những người già, Tết Độc lập cũng là dịp nhớ về một thời tuổi trẻ. Họ nhớ những cán bộ vượt núi vào bản, nhớ đội du kích, nhớ niềm vui khi nghe tin nước nhà độc lập. Nhưng họ cũng nhớ những năm tháng cùng nhau giữ bản, giữ đất và vượt qua đói nghèo.
Một trong những đổi thay lớn là việc đồng bào từng bước xóa bỏ cây anh túc, chuyển sang trồng mận tam hoa, đào đá, gừng, nghệ; phát triển đàn trâu, bò, dê, ngựa trên những triền núi cao.

Ở Mường Lống, Anh hùng Lực lượng vũ trang Vừ Chông Pao từng góp phần vận động bà con xóa bỏ cây anh túc, đưa cây mận tam hoa vào sản xuất. Còn Anh hùng liệt sĩ Và Bá Giải, người con Mường Lống, tình nguyện tham gia Bộ đội Biên phòng và hy sinh khi làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới năm 2004.
Một người góp sức thay đổi cuộc sống trên những nương núi. Một người ngã xuống để bảo vệ đường biên. Những câu chuyện ấy, ở những thời điểm khác nhau, đều góp phần làm nên ký ức về quê hương người Mông: biết đứng lên bảo vệ bản làng khi cần và biết thay đổi cách làm để cuộc sống tốt hơn.
Với thế hệ trẻ hôm nay, câu chuyện về độc lập không chỉ nằm trong ký ức. Nó hiện diện trong những nương đào, vườn mận; trong đàn gia súc trên núi cao; trong những đứa trẻ đến trường; trong những người dân chăm sóc rừng, làm ăn và góp sức giữ gìn bản làng, đường biên.
Hơn 80 năm đã trôi qua kể từ mùa Thu lịch sử năm ấy. Những người từng nghe tin đất nước độc lập đầu tiên đang dần thưa bóng. Nhưng những câu chuyện họ kể vẫn được truyền lại cho con cháu, để thế hệ sau hiểu rằng “nước nhà độc lập, dân tự do” không chỉ là ký ức của một ngày lịch sử.
Đó còn là hành trình được viết tiếp mỗi ngày dưới lá cờ đỏ, giữa những bản làng người Mông nơi rẻo cao xứ Nghệ.


