Analytic
Thứ Sáu, ngày 23 tháng 08 năm 2019, 09:25:27
  •  

Thúc đẩy xuất khẩu lao động ở các huyện nghèo: Quyết sách đúng cho vùng “lõi nghèo” (Bài 1)

Thi Thi - 14:07, 05/11/2022

Trong các nhóm giải pháp giảm nghèo thì giải quyết việc làm thông qua xuất khẩu lao động mang lại hiệu quả rõ rệt; đồng thời cũng là giải pháp để hạn chế tình trạng lao động “chui”. Từ hướng đi này, nhiều lao động người DTTS ở ở các huyện nghèo vùng đồng bào DTTS và miền núi sau khi được tiếp cận chính sách ưu đãi của Nhà nước đã vươn lên; tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế nên xuất khẩu lao động vẫn chưa đạt mục tiêu như kỳ vọng.

Công tác đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã được triển khai hiệu quả, đóng góp quan trọng vào công cuộc kiến thiết, phát triển đất nước. (Trong ảnh: Xã Đô Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An khang trang, trù phú một phần nhờ XKLĐ)
Công tác đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã được triển khai hiệu quả, đóng góp quan trọng vào công cuộc kiến thiết, phát triển đất nước. (Trong ảnh: Xã Đô Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An khang trang, trù phú một phần nhờ XKLĐ)

Hỗ trợ đồng bào DTTS đi xuất khẩu lao động (XKLĐ) ở nước ngoài theo hợp đồng nằm trong chiến lược giải quyết việc làm quốc gia, thông qua hợp tác quốc tế. Đây được đánh giá là đòn bẩy để giảm nghèo cho các địa phương có đông đồng bào DTTS, tỷ lệ hộ nghèo cao, sinh kế thiếu bền vững.

Tăng cường hợp tác để giải quyết việc làm

Chủ trương đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, đã được thực hiện từ những năm 80 của thế kỷ trước. Tại Nghị quyết số 362-CP ngày 29/11/1980, Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) đã nhận định: “Thông qua việc hợp tác này, ta có thể giải quyết việc làm và đào tạo nghề nghiệp cho một bộ phận thanh niên ta trong điều kiện các cơ sở kinh tế trong nước chưa thu hút được hết”. Nghị quyết 362-CP cũng xác định, thông qua hợp tác sử dụng lao động nhằm đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề vững, đáp ứng được yêu cầu phát triển nền kinh tế nước ta.

Thực hiện chủ trương này, công tác đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã được triển khai hiệu quả, đóng góp quan trọng vào công cuộc kiến thiết, phát triển đất nước. Quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực lao động – việc làm của nước ta liên tục được mở rộng. Từ bốn nước ban đầu (Liên Xô, Đông Đức, Bungari và Tiệp Khắc), đến nay, thị trường lao động xuất khẩu của Việt Nam mở rộng tới 40 quốc gia, vùng lãnh thổ, với hơn 30 ngành nghề.

Số lao động đi xuất khẩu của nước ta cũng tăng lên theo từng giai đoạn. Từ 1980 đến 1990, theo thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước - Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH), hơn 300 nghìn lao động Việt Nam đã được đưa đi làm việc ở nước ngoài; giai đoạn 1991 – 2000, dù đang trong thời kỳ tìm kiếm thị trường mới nhưng cũng đã có khoảng 160 nghìn lao động xuất cảnh; đến giai đoạn 2000 – 2007, số lao động đi làm việc ở nước ngoài đã tăng lên hơn 500 nghìn người.

Đề án 71 còn hỗ trợ người lao động học nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết theo quy định của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. (Ảnh minh họa)
Đề án 71 còn hỗ trợ người lao động học nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết theo quy định của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. (Ảnh minh họa)

Từ 2007 đến nay, cả nước đã có hơn 1 triệu lượt lao động xuất cảnh (hiện có khoảng 600 nghìn lao động đang làm việc ở nước ngoài). Chỉ tính trong 7 tháng năm 2022, đã có hơn 41 nghìn lượt lao động đã xuất cảnh; mục tiêu của cả năm 2022 là đưa khoảng 90 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài.

XKLĐ từng bước trở thành một hoạt động kinh tế - xã hội quan trọng; lượng kiều hối trong lĩnh vực này tăng mạnh theo từng giai đoạn. Trong đó, giai đoạn 1980 – 1990, kiều hối từ XKLĐ đạt 800 tỷ đồng và 300 triệu USD; giai đoạn 1991 – 2000 đạt 500 triệu USD; giai đoạn 2000 – 2007 đạt 1,5 – 2 tỷ USD; từ năm 2007 đến nay đạt 3 – 4 tỷ USD.

Đặc biệt, theo đánh giá của ông Nguyễn Gia Liêm, Phó Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước, lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng chiếm 7 - 9% tổng số người được giải quyết việc làm mỗi năm, giúp giảm sức ép tạo việc làm cho lao động trong nước. Công tác XKLĐ cũng góp phần quan trọng để đào tạo nghề, nâng cao trình độ cho lao động Việt Nam.

Không bỏ ai lại phía sau

Từ những kết quả đạt được trong công tác XKLĐ chung của cả nước, chủ trương hỗ trợ đưa lao động người DTTS đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đã được đặt ra. Việc này không chỉ góp phần giải quyết việc làm, đẩy nhanh tiến trình xóa đói giảm nghèo ở vùng đồng bào DTTS mà còn góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng lao động ở vùng “lõi nghèo” của cả nước.

Theo khảo sát của Bộ LĐTB&XH, cuối năm 2006, cả nước có 61 huyện (gồm 797 xã và thị trấn) thuộc 20 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%. Tại 61 huyện này, có khoảng 2,4 triệu người sinh sống, trong đó trên 90% là đồng bào DTTS, sống phân tán, thu nhập thấp (bình quân 2,5 triệu đồng/người/năm) chủ yếu từ nông nghiệp nhưng trình độ sản xuất còn lạc hậu; cơ sở hạ tầng vừa thiếu, vừa kém; thu ngân sách trên địa bàn mỗi huyện bình quân 3 tỷ đồng/năm.

Chính sách hỗ trợ XKLĐ theo Đề án 71 là quyết sách kịp thời, đồng thời cũng thể hiện tính nhân văn sâu sắc, quyết “không bỏ ai lại phía sau” trong lĩnh vực lao động – việc làm. (Trong ảnh: Lao động xã Phước Mỹ, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam được hỗ trợ XKLĐ từ Đề án 71 - Ảnh: TL)
Chính sách hỗ trợ XKLĐ theo Đề án 71 là quyết sách kịp thời, đồng thời cũng thể hiện tính nhân văn sâu sắc, quyết “không bỏ ai lại phía sau” trong lĩnh vực lao động – việc làm. (Trong ảnh: Lao động xã Phước Mỹ, huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam được hỗ trợ XKLĐ từ Đề án 71 - Ảnh: TL)

Bởi vậy, các nhà hoạch định chính sách nhận định, XKLĐ là một trong những giải pháp hữu hiệu để giảm nghèo nhanh cho các địa bàn này. Tuy nhiên, để đưa lao động người DTTS đi làm việc ở nước ngoài là rất gian nan; bởi lao động không có kỹ năng, không có vốn liếng, đọc thông viết thạo còn khó chứ nói gì đến ngoại ngữ,… Nếu không có chính sách hỗ trợ thì việc đưa lao động người DTTS ở các huyện nghèo đi làm việc ở nước ngoài là “bất khả thi”.

Trên cơ sở này, Bộ LĐTB&XH đã tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với các huyện nghèo. Trong Nghị quyết này, chính sách hỗ trợ lao động người DTTS đi XKLĐ đã được đặt ra.

Triển khai Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, ngày 29/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009 - 2020” (gọi tắt là Đề án 71). Mục tiêu của Đề án 71 là bình quân mỗi năm sẽ đưa khoảng 10 nghìn lao động tại 61 huyện nghèo đi XKLĐ; trong đó có 80 – 95% lao động thuộc hộ nghèo, hộ DTTS.

Đề án 71 được xem là cơ hội cải thiện đời sống của hộ nghèo, hộ DTTS ở 61 huyện nghèo. Bởi khi tham gia, lao động sẽ được thụ hưởng nhiều cơ chế ưu đãi để đủ điều kiện đi làm việc ở nước ngoài. Đó là lao động sẽ được bồi dưỡng nâng cao trình độ văn hóa thông qua khóa học 12 tháng. Trong thời gian học, lao động được hỗ trợ toàn bộ học phí, tài liệu học tập, sách giáo khoa, vở viết; hỗ trợ tiền ăn, sinh hoạt phí trong thời gian học, tiền tàu xe và trang cấp ban đầu như chế độ áp dụng đối với học sinh trong các trường phổ thông dân tộc nội trú.

Ngoài ra, Đề án 71 còn hỗ trợ người lao động học nghề, ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết theo quy định của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; hỗ trợ chi phí khám sức khỏe; làm hộ chiếu, viza và lý lịch tư pháp để tham gia XKLĐ. Riêng với lao động thuộc hộ nghèo, người DTTS còn được hỗ trợ tiền ăn, sinh hoạt phí trong thời gian học với mức 40 nghìn đồng/người/ngày; tiền ở với mức 200 nghìn đồng/người/tháng; tiền trang cấp đồ dùng cá nhân thiết yếu cho người lao động (quần áo đồng phục, chăn màn, giày dép …) với mức 400 nghìn đồng/người;…

Lao động đi XKLĐ được vay vốn tín dụng ưu đãi tại Ngân hàng Chính sách Xã hội. (Ảnh minh họa)
Lao động đi XKLĐ được vay vốn tín dụng ưu đãi tại Ngân hàng Chính sách Xã hội. (Ảnh minh họa)

Đặc biệt, để khuyến khích lao động người DTTS đi XKLĐ, Đề án 71 còn quy định chính sách cho vay tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội. Lao động được vay theo nhu cầu, tối đa bằng các khoản chi phí người lao động phải đóng góp theo từng thị trường; lãi suất chỉ bằng 50% lãi suất cho vay hiện hành của Ngân hàng Chính sách Xã hội áp dụng cho đối tượng chính sách đi XKLĐ.

Chính sách hỗ trợ XKLĐ theo Đề án 71 là quyết sách kịp thời, đồng thời cũng thể hiện tính nhân văn sâu sắc, quyết “không bỏ ai lại phía sau” trong lĩnh vực lao động – việc làm nói riêng, lĩnh vực giảm nghèo nói chung của Đảng, Nhà nước ta. Chính sách được ban hành nhằm cụ thể hóa chủ trương thúc đẩy XKLĐ ở vùng đồng bào DTTS và miền núi là hoàn toàn đúng đắn, không chỉ đem lại thu nhập cho lao động người DTTS mà còn tạo chuyển biến căn bản trong lĩnh vực lao động – việc làm ở địa bàn này. Bởi khi tham gia XKLĐ, lao động người DTTS sẽ hướng tới mục tiêu “đi làm thợ, về khởi nghiệp”.

Báo Dân tộc và Phát triển sẽ phản ánh nội dung này trong số báo tiếp theo.

Ý kiến độc giả
Mã bảo mật
Tin cùng chuyên mục
Theo dấu chân người Cơ Lao đỏ trên dải Tây Côn Lĩnh: Khát vọng vươn lên giữa gió núi và mây ngàn (Kỳ cuối)

Theo dấu chân người Cơ Lao đỏ trên dải Tây Côn Lĩnh: Khát vọng vươn lên giữa gió núi và mây ngàn (Kỳ cuối)

Giữa điều kiện còn nhiều khó khăn ở vùng cao Tây Côn Lĩnh, người Cơ Lao đỏ hôm nay đang từng bước thay đổi cuộc sống bằng con đường học tập và những lựa chọn mới của thế hệ trẻ. Tuy vậy, phía sau những tín hiệu chuyển mình ấy vẫn là bài toán dài hạn về sinh kế và chính sách, đặt ra yêu cầu cần những giải pháp phù hợp hơn để hỗ trợ cộng đồng phát triển bền vững.
Tin nổi bật trang chủ
Nghệ nhân Ưu tú Dương Lai: Giữ được văn hóa là giữ được gốc rễ của dân tộc mình

Nghệ nhân Ưu tú Dương Lai: Giữ được văn hóa là giữ được gốc rễ của dân tộc mình

Dân tộc - Tôn giáo - Huy Trường - Thành Nhân - 4 giờ trước
Giữa nhịp sống hối hả của xã hội hiện đại, ở làng Tak Kót, xã Trà Liên, TP. Đà Nẵng vẫn có người nghệ nhân lặng lẽ gìn giữ những thanh âm cồng chiêng, những sản phẩm đan lát truyền thống của đồng bào Co. Đó là Nghệ nhân Ưu tú Dương Lai. Không chỉ là “kho tàng sống” về văn hóa, ông còn là Người có uy tín, có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự phát triển của xã vùng cao Trà Liên.
Công tác dân tộc, tôn giáo là vấn đề chiến lược, lâu dài

Công tác dân tộc, tôn giáo là vấn đề chiến lược, lâu dài

Dân tộc - Tôn giáo - Trần Nghị - 4 giờ trước
Công tác dân tộc, tôn giáo là vấn đề chiến lược, lâu dài, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và phát triển đất nước.
Về thung lũng Lâm Thượng xem người Tày làm du lịch xanh

Về thung lũng Lâm Thượng xem người Tày làm du lịch xanh

Sắc màu 54 - PV - 4 giờ trước
Lâm Thượng không chỉ đẹp bởi cảnh sắc thiên nhiên mà còn đẹp bởi khát vọng tự cường của con người. Lâm Thượng hôm nay đang dệt nên bài ca về một vùng quê đáng sống, nơi sinh kế bền vững nảy mầm từ chính sự trân trọng văn hóa và môi trường.
Nông dân xã miền núi nuôi chồn hương kiếm hằng trăm triệu

Nông dân xã miền núi nuôi chồn hương kiếm hằng trăm triệu

Kinh tế - Phạm Tiến - 4 giờ trước
Những năm gần đây, tại xã miền núi Kim Điền, tỉnh Quảng Trị, nhiều hộ dân đã mạnh dạn đưa chồn hương vào chăn nuôi. Từ mô hình nhỏ lẻ ban đầu, đến nay chồn hương đã trở thành vật nuôi chủ lực, mở ra hướng làm giàu của 13 hộ gia đình với thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm.
Những hạt nhân đoàn kết trong vùng đồng bào Khmer

Những hạt nhân đoàn kết trong vùng đồng bào Khmer

Dân tộc - Tôn giáo - Minh Thu - 4 giờ trước
Những năm qua, bức tranh về đời sống kinh tế - xã hội vùng đồng bào Khmer đang tiếp tục có nhiều khởi sắc. Kết quả này, ngoài sự quan tâm của Đảng, nhà nước bằng những chủ trương, chính sách dân sinh phù hợp với thực tiễn; từ sự chung tay của các tổ chức chính trị, thì còn có vai trò đóng góp quan trọng của đội ngũ những Người có uy tín trong cộng đồng.
Quản lý tiền công đức - Cách làm minh bạch tại đền Cửa Ông

Quản lý tiền công đức - Cách làm minh bạch tại đền Cửa Ông

Tiền công đức - nguồn lực hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm tại các cơ sở tín ngưỡng lâu nay vẫn là “vùng nhạy cảm” trong quản lý. Từ cách làm minh bạch tại đền Cửa Ông (Quảng Ninh), câu hỏi đặt ra không còn là có cần kiểm soát hay không, mà là kiểm soát bằng cơ chế nào để giữ được niềm tin.
Đến năm 2030, 60% người dân sinh sống ở vùng đồng bào DTTS tỉnh Lào Cai được phổ biến, giáo dục pháp luật

Đến năm 2030, 60% người dân sinh sống ở vùng đồng bào DTTS tỉnh Lào Cai được phổ biến, giáo dục pháp luật

Chính sách Dân tộc - Trọng Bảo - 5 giờ trước
Đây là mục tiêu đặt ra trong kế hoạch triển khai thực hiện Đề án “Phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với đối tượng, địa bàn vùng đồng bào DTTS và miền núi, giai đoạn 2026 - 2035” trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
Sôi nổi Hội thi Tiếng dân tộc Tày trong Bộ đội Biên phòng năm 2026

Sôi nổi Hội thi Tiếng dân tộc Tày trong Bộ đội Biên phòng năm 2026

Tin tức - Minh Anh - 5 giờ trước
Sau 2 ngày tranh tài sôi nổi (13 - 14/4) tại tỉnh Lạng Sơn, Hội thi Tiếng dân tộc Tày trong Bộ đội Biên phòng năm 2026 đã khép lại với phần thi giành giải Nhất thuộc về Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng (BĐBP) Lạng Sơn.
Bên hồ Lắk người Mnông đưa sản phẩm nghề truyền thống thành sản phẩm du lịch đặc trưng

Bên hồ Lắk người Mnông đưa sản phẩm nghề truyền thống thành sản phẩm du lịch đặc trưng

Sắc màu 54 - Lê Hường - 6 giờ trước
Giữa nhịp sống hiện đại, người Mnông R’lăm (một nhánh của dân tộc Mnông) bên hồ Lắk, tỉnh Đắk Lắk vẫn lặng lẽ giữ nghề truyền thống của cha ông. Điều đáng mừng là các sản phẩm của nghề truyền thống như: Rượu cần, sản phẩm thổ cẩm, gốm... ngày càng phát huy giá trị khi gắn với các Tour du lịch cộng đồng và trở thành sản phẩm du lịch đặc trưng, giúp đồng bào có thêm nguồn thu nhập.
Kỳ vọng ở dự án mới xóa bỏ con đường “ghìm chân” ở Lượng Minh

Kỳ vọng ở dự án mới xóa bỏ con đường “ghìm chân” ở Lượng Minh

Kinh tế - Thanh Hải - 6 giờ trước
Tỉnh lộ 543B - trục đường chính kết nối xã Lượng Minh, tỉnh Nghệ An với các xã lân cận ra Quốc lộ 7 và Quốc lộ 48C - sau nhiều năm khai thác đã xuống cấp nghiêm trọng, trở thành “điểm nghẽn” nhiều năm khiến địa phương giậm chân tại chỗ . Nhưng kể từ khi dự án nâng cấp tuyến đường này được triển khai, người dân Lượng Minh đang kỳ vọng một sự đổi thay để phát triển.
Theo dấu chân người Cơ Lao đỏ trên dải Tây Côn Lĩnh: Khát vọng vươn lên giữa gió núi và mây ngàn (Kỳ cuối)

Theo dấu chân người Cơ Lao đỏ trên dải Tây Côn Lĩnh: Khát vọng vươn lên giữa gió núi và mây ngàn (Kỳ cuối)

Phóng sự - Vũ Mừng - Anh Huy - 6 giờ trước
Giữa điều kiện còn nhiều khó khăn ở vùng cao Tây Côn Lĩnh, người Cơ Lao đỏ hôm nay đang từng bước thay đổi cuộc sống bằng con đường học tập và những lựa chọn mới của thế hệ trẻ. Tuy vậy, phía sau những tín hiệu chuyển mình ấy vẫn là bài toán dài hạn về sinh kế và chính sách, đặt ra yêu cầu cần những giải pháp phù hợp hơn để hỗ trợ cộng đồng phát triển bền vững.