Từ Làng Sen đến khát vọng cứu dân, cứu nước
Làng Sen quê hương, gia đình và truyền thống văn hóa xứ Nghệ đã góp phần hun đúc nên tâm hồn, nhân cách Hồ Chí Minh - một con người suốt đời đau đáu với vận mệnh dân tộc, với độc lập, tự do và hạnh phúc của Nhân dân.

Làng Sen nuôi dưỡng một nhân cách lớn
Có những vùng đất không chỉ sinh ra con người, mà còn tạo nên cốt cách của con người ấy. Làng Sen của huyện Nam Đàn (cũ), tỉnh Nghệ An là một miền quê như thế.
Nơi ấy có rặng tre bốn mùa xào xạc, có vồng khoai, gốc mít; có “rào râm bụt đỏ hoa quê”, có mái nhà tranh đơn sơ, có câu ví giặm đằm sâu... Cuộc sống lam lũ, kham khổ nhưng giàu nghĩa tình của người dân xứ Nghệ đã tạo nên một vùng văn hóa riêng: Trọng nghĩa khí, giàu lòng tự trọng, hiếu học và luôn đau đáu với non sông đất nước.
Trong không gian văn hóa ấy, cậu bé Nguyễn Sinh Cung lớn lên bằng sự chắt chiu của gia đình và sự nâng đỡ của quê hương.
Thân mẫu Hoàng Thị Loan là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam tần tảo, nhẫn nại và giàu đức hy sinh. Những năm tháng dệt vải nuôi con, theo chồng vào Huế giữa cảnh nghèo khó đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tuổi thơ của Nguyễn Sinh Cung. Từ người mẹ, cậu bé sớm cảm nhận được sự nhọc nhằn của người lao động và học được lòng yêu thương con người.
Trong khi đó, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc lại truyền cho con tinh thần tự trọng và khí tiết của một nhà nho yêu nước. Đỗ đạt nhưng sống thanh bạch, gần dân, cụ luôn giữ thái độ cứng cỏi trước thời cuộc.
Câu dạy con của cụ “Không được lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình” không chỉ là lời răn về lối sống, mà còn là bài học về đạo đức và tư cách làm người.

Những điều tưởng như bình dị ấy, lại trở thành nền móng quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách Hồ Chí Minh sau này.
Từ rất sớm, Nguyễn Sinh Cung đã chứng kiến cảnh người dân lầm than dưới ách thực dân, cảnh nước mất, dân nghèo ngay trên quê hương mình.
Những câu chuyện về các sĩ phu yêu nước, về chí làm trai và nỗi nhục mất nước vang lên trong các cuộc đàm đạo của các nhà nho đầu thế kỷ XX đã gieo vào tâm hồn chàng trai trẻ nhiều day dứt lớn.
Xứ Nghệ khi ấy không chỉ là vùng đất học, mà còn là nơi hội tụ mạnh mẽ tinh thần yêu nước. Những tên tuổi như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Đặng Thái Thân…, đã góp phần khơi dậy trong lớp thanh niên đương thời ý thức về vận mệnh dân tộc.
Sinh ra trong thời đất nước nô lệ, lớn lên giữa những cảnh đời lầm than dưới ách thực dân, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành sớm mang trong mình nỗi day dứt lớn: Vì sao dân mình mất nước? Vì sao Nhân dân mình khổ cực? Và phải làm gì để cứu dân tộc?
Những câu hỏi ấy âm ỉ lớn lên từng ngày trong suy nghĩ người thanh niên xứ Nghệ. Và đó cũng là hành trang cho con đường dằng dặc gian khổ tìm đường cứu nước sau này của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Từ nỗi đau mất nước đến con đường giải phóng dân tộc
Nếu gia đình là nền móng đầu tiên, thì truyền thống quê hương cùng những con người ở vùng đất Nam Đàn xưa… chính là mạch nước ngầm thấm sâu mỗi ngày vào tâm hồn và tính cách của Nguyễn Tất Thành.
Ở tuổi 21, từ Bến Nhà Rồng, người thanh niên nước An Nam mất nước đã mang chí lớn vượt trùng khơi đi tìm đường cứu nước.
Khác với nhiều sĩ phu đương thời chọn Đông Du hay dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, Nguyễn Tất Thành quyết định tự mình đi tìm lời giải cho vận mệnh dân tộc. Đó là lựa chọn của một tư duy độc lập và bản lĩnh lớn.
Hành trình hơn 30 năm bôn ba qua nhiều quốc gia của chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành chính là hành trình của một con người luôn mang trong tim hình bóng quê hương đất Việt.
Từ những xưởng thợ đến những khu phố nghèo của người lao động ở phương Tây, chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành nhận ra rằng: Ở đâu người dân lao động cũng rực cháy khát vọng tự do, công bằng và quyền được sống như một con người.

Tình yêu nước trong Người vì thế không khép kín trong biên giới dân tộc, mà gắn với khát vọng giải phóng con người khỏi áp bức, bất công.
Điều đặc biệt ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, là dù đi qua nhiều nền văn hóa, tiếp xúc nhiều tư tưởng lớn của nhân loại, Người vẫn giữ nguyên cốt cách của người con xứ Nghệ: Giản dị, chân thành, kiên định và giàu lòng nhân ái.
Từ dáng ngồi bên bếp lửa, bữa cơm đạm bạc đến cách ứng xử với đồng bào, chiến sĩ… tất cả đều toát lên vẻ mộc mạc của một con người bước ra từ làng quê Việt Nam.
Có lẽ vì thế mà Người luôn gần gũi với Nhân dân.
Suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa bao giờ sống cho riêng mình. Điều Người đau đáu nhất vẫn là độc lập cho dân tộc, ấm no cho Nhân dân.
Ngay trước lúc đi về thế giới người hiền, điều cuối cùng Người nghĩ tới vẫn là đồng bào miền Nam, là cuộc kháng chiến còn dang dở, là tương lai của đất nước sau chiến tranh.
Từ Làng Sen đến hành trình tìm đường cứu nước, từ cậu bé Nguyễn Sinh Cung đến lãnh tụ Hồ Chí Minh là một dòng chảy nhất quán của lòng yêu nước và trách nhiệm với dân tộc.
Và có lẽ, điều lớn lao nhất mà quê hương xứ Nghệ đã hun đúc trong con người Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính là một khát vọng không bao giờ tắt: Khát vọng giành độc lập cho dân tộc, mang lại tự do, hạnh phúc cho Nhân dân.
Chính khát vọng ấy đã làm nên một Hồ Chí Minh của Việt Nam và của thời đại.



