Công tác Dân tộc

Ưu tiên vùng đồng bào DTTS ngay từ khâu phân bổ vốn

Vũ Mừng 21/09/2026 16:48

Nguồn vốn thực hiện các Chương trình MTQG là động lực lớn để Tuyên Quang đầu tư phát triển. Trước sự khác biệt về điều kiện và nhu cầu giữa các địa bàn, tỉnh xác định ưu tiên nguồn lực cho vùng đồng bào DTTS và miền núi, nhất là những nơi còn nhiều khó khăn.

a3t12.jpg
Một góc xã Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang, nơi nguồn lực đầu tư được tập trung cho các công trình thiết yếu, phục vụ đời sống và phát triển sản xuất của người dân

Từ thực tiễn địa bàn

Giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Tuyên Quang được giao 2.230 tỷ đồng vốn ngân sách Trung ương cho chương trình phát triển văn hóa và trên 6.049 tỷ đồng thực hiện các Chương trình MTQG: Xây dựng nông thôn mới; Giảm nghèo bền vững và Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Tuy nhiên, quy mô và đặc điểm địa bàn khiến yêu cầu sử dụng nguồn vốn không thể áp dụng theo một cách chung. Toàn tỉnh hiện có 123/124 đơn vị hành chính cấp xã thuộc vùng đồng bào DTTS và miền núi; trong đó có 22 xã khu vực I, 14 xã khu vực II, 87 xã khu vực III và 1.905 thôn đặc biệt khó khăn.

Tuyên Quang có 46 thành phần dân tộc sinh sống với hơn 1,3 triệu người, đồng bào DTTS chiếm khoảng 73,5% dân số. Trong một không gian phát triển rộng, mức độ khó khăn và nhu cầu đầu tư giữa các địa bàn có sự chênh lệch, đòi hỏi nguồn vốn phải được đặt đúng vào những nơi, những lĩnh vực đang cần nhất.

Từ yêu cầu đó, định hướng phân bổ vốn giai đoạn 2026 - 2030 của tỉnh là tăng nguồn lực cho cơ sở, đồng thời dành vốn cho các công trình, dự án quy mô lớn, có tính liên vùng, khả năng tạo động lực và sức lan tỏa. Ðối với cấp xã, việc xác định mức vốn dựa trên nhu cầu thực tế, ưu tiên các công trình trọng điểm và những địa bàn có đủ điều kiện triển khai.

Theo ông Ðỗ Hùng Ðức - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang, việc xây dựng phương án phân bổ vốn giai đoạn 2026 - 2030 phải quán triệt nguyên tắc ưu tiên tối đa cho vùng khó khăn, vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Theo đó, nguồn lực đầu tư cần được tập trung vào những nhu cầu thiết yếu nhất của người dân, trước hết là nước sạch sinh hoạt, đất sản xuất, y tế, giáo dục và nhà ở. Ðây là những vấn đề có tác động trực tiếp đến đời sống, khả năng ổn định sinh kế và kết quả giảm nghèo tại cơ sở.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang cũng lưu ý, trong quá trình xác định danh mục đầu tư, các địa phương phải tránh tình trạng phân tán nguồn lực cho quá nhiều công trình nhỏ, manh mún hoặc lựa chọn những công trình chỉ thuận lợi trong triển khai nhưng hiệu quả sử dụng thấp. Việc đầu tư cần có trọng tâm, trọng điểm, gắn với nhu cầu thực tế và khả năng phát huy hiệu quả sau đầu tư.

Mục tiêu xuyên suốt, theo lãnh đạo UBND tỉnh, là từng bước xây dựng hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn và hạ tầng văn hóa đồng bộ, tạo nền tảng để các địa phương nâng cao chất lượng đời sống, phát triển sản xuất và khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế của mình.

Từ nhu cầu thiết yếu đến sinh kế bền vững

Trong quá trình triển khai thực tế tại cơ sở giai đoạn 2026 - 2030, ông Nguyễn Văn Dưng - Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Tuyên Quang, cho rằng, trước hết nguồn lực cần tập trung giải quyết những thiếu hụt thiết yếu, nhất là những vấn đề trực tiếp ảnh hưởng đến đời sống và khả năng ổn định sinh kế của người dân.

Khi những nhu cầu căn bản từng bước được đáp ứng, chính sách cần chuyển mạnh sang tạo điều kiện để người dân có sinh kế ổn định, nâng thu nhập và từng bước tự chủ trong phát triển.

Thực tế giai đoạn 2021 - 2025, Tuyên Quang đã triển khai 44 dự án sản xuất theo chuỗi giá trị, 34 dự án cộng đồng và 20 mô hình khởi nghiệp. Kết quả này là cơ sở để tỉnh tiếp tục rà soát, lựa chọn những nội dung hỗ trợ phù hợp trong giai đoạn 2026 - 2030, theo hướng không chỉ hỗ trợ trước mắt mà phải tạo được khả năng duy trì và phát huy hiệu quả sau đầu tư.

Với các dự án sản xuất, theo ông Dưng, việc lựa chọn cây, con phải xuất phát từ điều kiện thực tế của từng địa bàn, đồng thời tính đến toàn bộ quá trình từ tổ chức sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật đến liên kết và tiêu thụ sản phẩm.

Những mô hình có khả năng hình thành vùng sản xuất, tạo liên kết giữa các hộ dân và kết nối được với thị trường cần được ưu tiên, qua đó nâng hiệu quả nguồn vốn thay vì hỗ trợ dàn trải, nhỏ lẻ.

Ðối với đào tạo nghề, việc lựa chọn ngành nghề cũng cần gắn với hướng phát triển của từng địa bàn. Những nơi có lợi thế về nông nghiệp cần gắn đào tạo với sản xuất; địa bàn có tiềm năng du lịch, dịch vụ cần lựa chọn ngành nghề đáp ứng nhu cầu lao động tại chỗ. Khi đào tạo nghề gắn với việc làm và sinh kế, chính sách sẽ tạo tác động trực tiếp hơn đến khả năng tăng thu nhập của người dân.

Cùng với đó, việc lựa chọn dự án cần tính đến lợi thế riêng của từng địa bàn. Với những nơi có điều kiện phát triển nông nghiệp hàng hóa, lâm nghiệp, du lịch, dịch vụ hoặc kinh tế cửa khẩu, nguồn lực không chỉ dừng ở việc giải quyết những thiếu hụt trước mắt mà còn cần tạo điều kiện để địa phương khai thác tốt hơn lợi thế sẵn có.

Theo ông Dưng, đây cũng là cách để các địa bàn khó khăn từng bước hình thành động lực phát triển, giảm sự phụ thuộc vào nguồn hỗ trợ.

    Ưu tiên vùng đồng bào DTTS ngay từ khâu phân bổ vốn
    • Mặc định