Vùng cao trong nhịp phát triển mới:Khi người dân trở thành chủ thể tạo giá trị (Kỳ 1)
Căn nhà trình tường của người Dao trở thành Homestay đón khách; mật ong rừng được bán qua những phiên Livestream... Cách nghĩ mới đang hình thành ở vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới Quảng Ninh. Không chỉ chờ nguồn lực hỗ trợ, người dân chủ động đánh thức những giá trị sẵn có để tạo sinh kế và làm giàu ngay trên quê hương mình.
LỜI TÒA SOẠN:
Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương mở ra một không gian phát triển mới, đồng thời đặt ra yêu cầu mới đối với vùng đồng bào DTTS, miền núi, biên giới.
Khoảng cách phát triển không thể chỉ được rút ngắn bằng nguồn lực đầu tư. Quan trọng hơn là làm thế nào để người dân từ đối tượng thụ hưởng chính sách trở thành chủ thể của quá trình phát triển; để đất đai, rừng, văn hóa, sản vật và con người vùng cao không chỉ là những nguồn lực “đang có”, mà thực sự trở thành giá trị.
Tuyến bài ghi nhận những chuyển động từ cơ sở, đồng thời đi tìm lời giải cho một câu hỏi lớn hơn: Cấp ủy, chính quyền phải đổi mới cách lãnh đạo, tổ chức thực hiện chính sách như thế nào để đánh thức nội lực, khơi dậy ý chí vươn lên và đưa vùng cao thực sự hòa vào nhịp phát triển mới của Quảng Ninh?
Khi căn nhà đất bắt đầu “sinh lời”
Bức tường đất vẫn còn đó. Nếp nhà của người Dao không mất đi. Những món ăn quen thuộc của gia đình vẫn hiện diện. Chỉ có cách nhìn về những thứ vốn rất đỗi bình thường ấy đang thay đổi.
Trong căn nhà trình tường ở thôn Sông Moóc, xã Hoành Mô, ông Dường Phúc Thím vẫn giữ gần như nguyên vẹn những nét quen thuộc với không gian sống của người Dao.
Nhưng giờ đây, căn nhà không chỉ là nơi một gia đình sinh sống. Nó còn là nơi đón những vị khách từ phương xa.
Bữa cơm của người Dao trở thành một phần trải nghiệm. Cách dựng nhà, nếp sinh hoạt, món ăn, câu chuyện văn hóa bản địa vốn tồn tại qua nhiều thế hệ nay được nhìn bằng một giá trị khác: Giá trị kinh tế gắn với bản sắc.

“Giờ Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, chúng tôi mong khách đến vùng cao nhiều hơn. Người dân có nhà truyền thống, có văn hóa, ẩm thực thì có thể làm du lịch, vừa giữ được bản sắc vừa có thêm thu nhập”, ông Thím nói.
Cách nghĩ của người đàn ông Dao nghe giản dị, nhưng phía sau đó là một thay đổi đáng chú ý. Ông Thím không rời quê hương để tìm sinh kế. Ông tìm sinh kế ngay trong những gì quê hương đang có.
Câu chuyện của gia đình ông cho thấy một khả năng khác của vùng cao: Khi người dân biết tổ chức lại những nguồn lực quen thuộc của mình, văn hóa có thể tạo ra sinh kế mà vẫn được bảo tồn; ngôi nhà có thể tạo ra thu nhập mà vẫn giữ được hồn cốt; người dân có thể phát triển mà không nhất thiết phải rời bản.

Từ mật ong rừng đến một phiên Livestream
Bản 26 hộ (thôn Thán Phún Xã) là nơi 26 hộ người Sán Chỉ từng đến lập nghiệp từ năm 2003. Hơn 20 năm sau, bản có 34 hộ và không còn hộ nghèo.
Những ngôi nhà tầng nằm giữa vườn cây, nhiều gia đình đã có ô tô; kinh tế không còn chỉ dựa vào một nguồn thu mà được mở rộng từ vườn rừng, chăn nuôi, nuôi ong đến các sản phẩm văn hóa.
Mỗi người dân ở bản đã lựa chọn một cách riêng để bước ra thị trường.
Chị Trần Thị Dẩu có kinh nghiệm săn ong rừng, tìm cách biến sản vật của núi rừng thành nguồn thu nhập.
Chị Trần Chắn giữ nghề may trang phục Sán Chỉ, để những đường kim, nét hoa văn gắn với đời sống cộng đồng có thể trở thành một sản phẩm mang dấu ấn văn hóa.
Còn anh Nịnh Văn Dìn chọn cách cầm điện thoại lên. Qua những phiên livestream mộc mạc, mật ong, sản vật và cảnh sắc Hải Sơn theo sóng internet bước ra ngoài bản làng.
Trong từng phiên phát trực tiếp, anh còn kể về vùng đất nơi sản phẩm ấy được làm ra, về núi rừng, con người và cuộc sống ở Hải Sơn.
Khoảng cách giữa người sản xuất ở một bản miền núi với khách hàng ở xa được rút ngắn chỉ bằng một màn hình.
Ba con người, ba cách làm khác nhau, nhưng cùng bắt đầu từ một điểm: Không ngồi chờ một nguồn lực mới xuất hiện, họ tìm cách làm cho nguồn lực mình đang có trở nên có giá trị hơn.
Đó chính là khác biệt giữa “có tiềm năng” và “biến tiềm năng thành sinh kế”.
.jpg)
Không để người dân đi một mình
Để một vài mô hình riêng lẻ trở thành hướng phát triển của cả cộng đồng, chỉ sự năng động của từng hộ dân là chưa đủ.
Theo ông Đỗ Viết Mạnh - Bí thư Đảng ủy xã Hải Sơn, địa phương đang khuyến khích người dân phát huy những giá trị sẵn có, từ sản vật, văn hóa đến cảnh quan; đồng thời tận dụng công nghệ để đưa những giá trị ấy đến gần hơn với thị trường.
Đường xuyên bản đang từng bước được hoàn thiện. Hệ thống nước sạch được đầu tư. Định hướng phát triển homestay, hàng quán được tính toán.
Ở đây có thể nhìn thấy khá rõ một sự phân vai: Nhà nước tạo điều kiện. Chính quyền mở đường. Người dân là người làm.
Bản 26 hộ vì thế không chỉ là câu chuyện của một cộng đồng đã thoát nghèo.
Giá trị lớn hơn nằm ở chỗ, sau khi đi qua nghèo khó, người dân bắt đầu đặt ra một câu hỏi khác: Làm thế nào để sống tốt hơn từ chính những gì mình có?
Đó là một bước chuyển rất khác. Từ cần được hỗ trợ để ổn định cuộc sống sang chủ động tìm thị trường. Từ sản xuất để sử dụng sang sản xuất để tạo giá trị. Từ giữ gìn văn hóa như một di sản của cộng đồng sang tìm cách để văn hóa vừa được bảo tồn, vừa tạo sinh kế.
Và từ vị trí người thụ hưởng chính sách, người dân dần trở thành chủ thể của quá trình phát triển.
Không để vùng cao đứng ngoài nhịp phát triển mới
Tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 4/8, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến cho biết Quảng Ninh có 12 xã với hơn 160.000 người dân tộc thiểu số, chiếm khoảng 12,31% dân số.
Ông lưu ý cần tiếp tục quan tâm vùng đồng bào DTTS, miền núi và những địa bàn còn khó khăn, bảo đảm quá trình chuyển đổi mô hình hành chính đi cùng những thay đổi thực chất về hạ tầng, sinh kế và chất lượng cuộc sống.
Yêu cầu ấy càng có ý nghĩa khi Quảng Ninh bước vào một không gian phát triển mới.

Phía sau những con số tăng trưởng, những tuyến giao thông mới hay sự mở rộng của đô thị vẫn còn một câu hỏi quan trọng: Người dân vùng cao sẽ đứng ở đâu trong tiến trình phát triển ấy?
Nếu chỉ tiếp tục nhìn vùng đồng bào DTTS và miền núi, biên giới như những khu vực cần hỗ trợ, chính sách rất dễ dừng ở mục tiêu bù đắp khoảng cách.
Nhưng nếu nhìn nơi đây như một không gian còn nhiều nguồn lực chưa được đánh thức - với rừng, đất đai, cảnh quan, văn hóa bản địa và con người - bài toán sẽ khác.
Đó không còn đơn thuần là “đưa thêm nguồn lực lên vùng cao”, mà là “làm thế nào để nguồn lực của chính vùng cao sinh ra giá trị”.
Khoảng cách giữa hai cách tiếp cận ấy cũng chính là khoảng cách từ giảm nghèo đến phát triển bền vững.
Đánh thức một vùng đất từ chính những gì đang có
Trở lại căn nhà trình tường của ông Dường Phúc Thím. Bức tường đất không thay đổi. Nhưng cách con người nhìn vào nó đã khác.
Ở Hải Sơn cũng vậy.
Con ong vẫn tìm mật trong những cánh rừng ấy. Bộ trang phục Sán Chỉ vẫn được may từ những đường kim quen thuộc. Núi rừng vẫn là núi rừng của bao thế hệ.
Điều đang thay đổi là cách những giá trị ấy được tổ chức, kết nối với thị trường và biến thành sinh kế.
Nhưng từ một hộ biết làm du lịch đến cả bản cùng phát triển vẫn còn một khoảng cách. Từ một phiên livestream bán được sản phẩm đến một chuỗi giá trị bền vững cũng không phải con đường ngắn.
Ai sẽ giúp người dân nối những khoảng cách ấy? Cấp ủy, chính quyền cơ sở phải thay đổi cách nghĩ, cách làm ra sao để nghị quyết không dừng trên trang giấy mà trở thành sinh kế, thu nhập và cơ hội phát triển của từng gia đình vùng cao? Đó là câu chuyện của Kỳ 2.



