Chính sách “đổi cách làm”, người dân Cao Bằng nâng giá trị nông sản
Từ hỗ trợ sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu đến truy xuất nguồn gốc và phát triển thương hiệu, Cao Bằng đang từng bước hoàn thiện hệ sinh thái chính sách để nông sản không chỉ an toàn trong sản xuất mà còn tạo được niềm tin trên thị trường.
Một nền nông nghiệp an toàn không thể hình thành chỉ bằng nỗ lực của người sản xuất. Đó là quá trình cần sự đồng hành của chính sách, từ hỗ trợ kỹ thuật, tổ chức lại sản xuất đến kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và xây dựng thương hiệu.
Tại Cao Bằng, các chính sách đang được cụ thể hóa theo hướng lấy sản phẩm và chuỗi giá trị làm trung tâm, qua đó giúp nông dân thay đổi phương thức sản xuất, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản.

Chuẩn hóa để nông sản đi xa
Trước khi sáp nhập với thị trấn Nguyên Bình và xã Vũ Minh thành xã Nguyên Bình, xã Thể Dục là vùng trồng lê tập trung theo tiêu chuẩn VietGAP của huyện Nguyên Bình (cũ). Vùng trồng có quy mô 12 ha, với khoảng 180 hộ chuyên canh.
Cây lê là nguồn thu nhập chính, ổn định của khoảng 2/3 số hộ tại Thể Dục. Quan trọng hơn, quá trình sản xuất theo tiêu chuẩn đã giúp người dân thay đổi tư duy, chú trọng quy trình, nguồn gốc và chất lượng sản phẩm.
Gia đình bà Đặng Mùi Ghển ở xóm Nặm Bioóc, nay thuộc xóm Pác Pó, xã Nguyên Bình, gắn bó với cây lê từ năm 2005. Trước đây, gia đình chủ yếu sản xuất theo kinh nghiệm nên năng suất và chất lượng quả chưa cao.
Bước ngoặt đến năm 2023, khi bà tham gia mô hình trồng lê an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP thuộc dự án khuyến nông của tỉnh. Qua các buổi tập huấn về chăm sóc, sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hợp lý, bà Ghển áp dụng quy trình mới trên 100 gốc lê vàng, diện tích 0,3 ha.
Tuân thủ quy trình sản xuất, vườn lê được cấp chứng nhận VietGAP, mã số vùng trồng và có thể truy xuất nguồn gốc. Với năng suất bình quân khoảng 3 tấn quả/năm, giá bán từ 50.000 - 80.000 đồng/kg tùy loại, vườn lê mang lại cho gia đình bà thu nhập khoảng 150 - 200 triệu đồng mỗi năm.
Từ những mô hình như vậy, yêu cầu về tiêu chuẩn sản xuất, mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc đang từng bước được mở rộng. Tính đến tháng 3/2026, toàn tỉnh đã được cấp 177 mã số vùng trồng và 2 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu chính ngạch.
Ngày 20/8/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường Cao Bằng kết nối 43 điểm cầu tại các xã, phường để tổ chức tập huấn trực tuyến về quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói. Có 465 cán bộ nông nghiệp cấp xã, phường tham gia, được cập nhật quy định mới, hướng dẫn thiết lập hồ sơ, giám sát mã số và xử lý những vướng mắc trong thực tế.
Việc nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cơ sở giúp chính sách không dừng ở văn bản mà được chuyển thành hướng dẫn cụ thể cho nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Đây cũng là nền tảng để nông sản Cao Bằng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và xuất khẩu chính ngạch.
Cùng với chuẩn hóa sản xuất, xây dựng thương hiệu được đẩy mạnh thông qua Chương trình OCOP. Toàn tỉnh hiện có 188 sản phẩm OCOP được công nhận, gồm 10 sản phẩm đạt 4 sao và 178 sản phẩm đạt 3 sao. Những con số này cho thấy nông sản địa phương đang từng bước được chuẩn hóa, nâng cao chất lượng và định danh rõ hơn trên thị trường.

Cùng với chuẩn hóa vùng trồng và quy trình sản xuất, việc xây dựng thương hiệu cũng được đẩy mạnh thông qua Chương trình OCOP. Đến nay, toàn tỉnh có 188 sản phẩm OCOP được công nhận, trong đó 10 sản phẩm đạt 4 sao và 178 sản phẩm đạt 3 sao, cho thấy nông sản Cao Bằng đang từng bước được chuẩn hóa, nâng cao chất lượng và định danh rõ hơn trên thị trường.
Đưa kỹ thuật mới đến từng hộ chăn nuôi
Đằng sau mỗi sản phẩm đạt chuẩn là một cách làm mới. Vì vậy, hành trình nâng chất nông sản Cao Bằng không chỉ bắt đầu từ chứng nhận hay mã số vùng trồng, mà còn từ việc đưa tiến bộ kỹ thuật đến từng hộ dân.
Trong chăn nuôi, chính sách hỗ trợ được triển khai theo hướng không chỉ cung cấp con giống, vật tư mà còn đồng hành với người dân trong suốt quá trình sản xuất. Cán bộ khuyến nông hướng dẫn kỹ thuật, kiểm soát dịch bệnh và theo dõi hiệu quả mô hình.
Mô hình chăn nuôi gà thương phẩm 18M1 an toàn sinh học tại xã Trường Hà là một ví dụ. Triển khai từ tháng 1/2026, mô hình có 64 hộ tham gia tại các xóm Hòa Mục, Nà Mạ và Đôn Chương. Mỗi hộ được hỗ trợ khoảng 100 con gà giống 18M1.
Điểm đáng chú ý là người dân được hướng dẫn cải tạo chuồng trại, vệ sinh, tiêu độc khử trùng, kiểm soát người và phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi, tiêm phòng đúng lịch, sử dụng chế phẩm sinh học xử lý môi trường, đồng thời ghi chép và theo dõi đàn.
Đến tháng 5/2026, đàn gà đạt tỷ lệ nuôi sống 95,2%, khối lượng bình quân khi xuất bán 2,12 kg/con, hệ số tiêu tốn thức ăn 2,79 kg/kg tăng khối lượng. Với quy mô 100 con, mỗi hộ thu lợi nhuận khoảng 5,77 triệu đồng, cao hơn 17,2% so với phương thức chăn nuôi đại trà tại địa phương.
Hiệu quả lớn hơn nằm ở sự thay đổi trong cách nghĩ, cách làm. Từ chăn nuôi dựa chủ yếu vào kinh nghiệm, người dân từng bước chuyển sang chủ động phòng dịch, quản lý đàn, kiểm soát môi trường và ghi chép quá trình sản xuất. Những kiến thức được chuyển giao không kết thúc khi mô hình hoàn thành mà trở thành năng lực sản xuất để người dân tiếp tục áp dụng và nhân rộng.
Qua mô hình Trường Hà có thể thấy, hiệu quả của chính sách không chỉ nằm ở việc hỗ trợ đầu vào mà quan trọng hơn là trao cho người dân một phương thức sản xuất mới. Khi kỹ thuật đến tận hộ, nông dân có thêm công cụ để giảm rủi ro, nâng năng suất, kiểm soát chất lượng và cải thiện thu nhập.

Nâng cao kiến thức sản xuất an toàn cho nông dân
Giai đoạn 2026 - 2030, tỉnh Cao Bằng bố trí hơn 3,6 tỷ đồng hỗ trợ nông dân sản xuất, kinh doanh nông sản, thực phẩm an toàn tại 56 xã, phường. Tỉnh phấn đấu đến năm 2030 có trên 95% hộ hội viên nông dân sản xuất, chế biến, kinh doanh nông sản, thực phẩm được tuyên truyền, tập huấn kiến thức và thực hành an toàn thực phẩm.
Hội Nông dân tỉnh được giao mở các lớp tập huấn nâng cao nhận thức, kiến thức cho hội viên nông dân. Sở Nông nghiệp và Môi trường tham gia chứng nhận cơ sở, tư vấn, xây dựng sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP.



