Chông chênh bếp lửa giữa nhà
Với những người ở đại ngàn, bếp lửa quý như tính mệnh mình, thiêng như Yàng, như đất, bếp lửa chính là trung tâm cấm kỵ. Nơi đó cũng là khởi nguồn của những sử thi, của lời răn dạy con cháu, của luật tục truyền đời. Nhưng bây giờ bếp lửa giữa nhà đang dần chông chênh xa vắng.

“Mắt rừng” đã vắng
Nhà sàn và bếp lửa gắn với nhau như máu thịt trong suốt hành trình hình thành, tồn tại và phát triển của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Trong ngôi nhà sàn ấy, bếp lửa như chốn trung tâm của tất cả mọi sinh hoạt đời người. Nhưng bây giờ, như còn ít lắm những bếp lửa giữa nhà như thế.
Ngược lên triền Tây xứ Quảng, dài rộng cao nguyên, xa xanh Trường Sơn có những bản làng đồng bào thấp thoáng dưới vòm mây như thế. Nhưng giờ nhà sàn còn ít quá và bếp lửa giữa nhà cũng theo đó mà rụng rơi dần.
Mươi năm về trước, những bếp lửa nhà sàn vẫn dày như đàn mối. Với người miền núi, lửa quý như tính mệnh mình, thiêng như Yàng, như đất. Với người ở núi, thần linh có mặt khắp nơi và một thuở dằng dặc lâu lắc, họ quan niệm bếp chính là trung tâm cấm kỵ.
Nhờ bếp mà mình có ăn, giúp mình đi qua mùa đói. Có khói bay lên thì đó là chỉ dấu hiện diện cho hơi ấm gia đình, cho sự bình yên và hạnh phúc đang hiện hữu. Mà củi lửa, đồ ăn, chính là sản phẩm của thần linh từ rừng, nên tuyệt đối không được mất lửa.
Sau mỗi ngày mỏi mệt rẫy nương, họ trở về với bếp lửa nhà sàn, rồi bao đêm bao ngày trong cơn gió hoang dại của rừng, họ đã nghe lời của lửa với bao khóc cười và tiếng hát. Những tiếng hát miên man như gió, như mưa rừng, họ im và nhìn ngọn lửa rồi vỗ tay để hân hoan tràn lên mặt. Họ là truyền nhân của những đứa con rừng thiêng, đủ phẩm hạnh để đạt đến cảnh giới tiếp nhận từ lửa và tiếng hát kia một cuộc trở về của bản sắc văn hóa nghìn đời.
Giữ được ngọn lửa luôn cháy sáng với họ là điềm lành, mang lại sức khỏe, được mùa, mang lại sự trường thọ cho người già và sự trưởng thành cho trẻ nhỏ. Họ đã ở đây. Tổ tiên đã ở đây, sống và tín thác cùng bếp lửa. Lời nguyền không tên ấy trao truyền bao thế hệ.
Tôi hỏi lão già làng A Lăng Reng ở Aur, xã biên giới A Vương, TP. Đà Nẵng rằng, xứ núi còn nhiều bếp lửa nhà sàn không? Ông nhìn tôi lắc đầu, còn mà ít lắm. Bây giờ đại đa số dùng bếp điện, bếp ga thôi. Làm nông thôn mới, đời sống mới là nhà cửa phải sạch sẽ, mà phải bảo vệ rừng, không được chặt cây bừa bãi nữa, nên nhà sàn chẳng còn nhiều, mà không còn nhà sàn truyền thống, thì bỏ không làm bếp củi nữa.
Bây giờ, đi ngang dọc khắp miền núi, họa hoằn lắm mới tìm ra cái bếp ngự giữa nhà sàn như nguyên thủy của những người “muôn năm cũ”. Cơn lốc văn minh ùa đến từng triền núi xanh với bếp ga, bếp điện đầy đủ tiện ích, cứ thế bỏ xó củi lửa vào một góc...

Những lay lắt mất còn
Bao lần về núi, đã ngụ trong mưa lạnh đầu nguồn, chân quay về hướng bếp ngủ ngon trong thì thầm của lửa. Cũng đã bao lần đi và gặp được nhiều người già, vẫn thích nhìn họ mông lung bên bếp lửa giữa nhà sàn, rì rầm khe khẽ trò chuyện với tiếng tí tách của lửa, vừa đủ để mơ màng những xa xăm.
Mọi thứ quanh những người già bên lửa ấy như đông cứng lại, đặc quánh quá khứ. Như thể ngoài bếp và ngọn lửa đủ hắt lên màu vàng pha đồng những ching chiêng lâu ngày mới đem ra chùi rửa để đánh, hay làm ám khói những quả bầu khô để dìu dặt tiếng Tingning.
Còn lại tất cả vô nghĩa, không tên, không cần biết. Trường Sơn xa thẳm có truyền thuyết về Vua Lửa trên vùng Ayun, mỗi mùa khô khát lại cầu mưa cho cả trăm, cả ngàn buôn làng thôi xộc xệch bụi đỏ Bazan.
Còn đó những giấc mơ về nhà chồng của củi hứa hôn, hay lửa trong ánh mắt của người già ngồi nói chuyện suối ngàn đêm vắng, cũng làm mồ hôi rịn trên trán của người mẹ địu đứa con thức sớm nấu nồi cơm gạo nương mới để lên rẫy. Bếp lửa ấy đi từ những trang sử thi, hiển hiện ở đời thực, mà cũng là phên vách, là lá rừng, là chốn xanh kia khởi nguyên của tiên tổ.
Nhiều lúc chúng tôi vẫn đùa rằng, không có bếp lửa nhà sàn, thần linh cũng đi vắng hết rồi. Lão già làng A Biu ở xã Ngọc Bay, tỉnh Quảng Ngãi cười, ngậm ngùi: “Ừ, không có bếp nhạt nhẽo lắm. Ngày xưa họ tin thần linh bao nhiêu thì sống tốt bấy nhiêu! Bây giờ...”. Ông bỏ lửng câu nói, như trút vào khói cả nỗi niềm mênh mông của Trường Sơn đêm hun hút.
A Biu ít ra còn may mắn, bởi ông giữ lại nguyên vẹn ngôi nhà trăm năm tuổi của mình, nơi đó có bếp lửa giữa nhà. Nơi ấy ông cũng giữ lại gần như nguyên vẹn bản sắc văn hóa Ba Na cho mình và cho mọi người. Người già như A Biu còn ít lắm.
Sứ mệnh của lửa củi giữa căn nhà sàn giờ cứ chông chênh đến lạ. Sự va chạm khắc nghiệt nhưng chậm rãi giữa truyền thống và hiện đại ở miền núi đã diễn ra hằng ngày, hằng giờ. Thế nên nhiều lớp trẻ bây giờ không còn biết cách giữ lửa, không còn được rì rầm những đêm khan bên bếp lửa, không lặng lòng để nghe đàn Goong hay nhịp Cha Pi gieo đầy thương nhớ xa xưa.
Ở đó, lời vợ chồng thủ thỉ, ông bà truyền dạy cháu mật ngôn của rừng, người già dặn dò lớp trẻ, những thầm kín, những thời khắc quan trọng của nhà, của làng, được quyết định trong sự chứng kiến của thần linh. Ở đó, chỉ có lời chân thật. Bếp lửa là mắt của nhà, không còn bếp lửa, sao thấy vắng lạ. Cũng bởi làm sao đòi hỏi được ở thế hệ trẻ sinh ra đã thấy bếp ga, bếp điện phải tỏ tường về bếp lửa nhà sàn được.
Vắng dần bếp lửa nhà sàn, người ở núi chỉ còn ít ỏi chông chênh nhớ. Như lão già làng ở xã biên giới A Vương khi được hỏi bỗng dừng lại và dường như đến đó, nỗi nhớ bếp lửa thoáng qua.
Hình như biết rằng lâu rồi không còn nhiều nữa, cũng chẳng ai nhắc, giờ bỗng nhiên có người chạm đến, một chút bần thần vụt hiện, để rồi lại lắc đầu tiếc nuối. Sự thừa nhận đầy nuối tiếc của những người già sắp về với rừng nghe tức thở như giọt nước mắt sắp rơi, giả vờ trong làn khói cay xè đôi mắt. Thương...



