Già làng mở kho lúa phân phát cho người dân nấu cơm cho lễ hội.Dân tộc Brâu (Brao), thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer, là một trong những dân tộc có dân số rất ít người ở Việt Nam. Tổ tiên người Brâu vốn sinh sống tại vùng Nam Lào và Đông Bắc Campuchia; hiện nay, phần lớn cộng đồng vẫn cư trú dọc lưu vực sông Sê San (Xê Ca Mang) và sông Nậm Khoong (Mê Kông).
Người Brâu di cư sang Việt Nam cách nay khoảng 150 năm, tương đương đời thứ tám, theo hai nhánh dòng tộc do hai anh em ruột đứng đầu. Hiện nay, đồng bào Brâu sinh sống tập trung chủ yếu tại làng Đắk Mế, xã Pờ Y, tỉnh Quảng Ngãi, một số ít cư trú ở làng Tà Ka. Toàn cộng đồng có khoảng 173 hộ với 591 nhân khẩu.
Phụ nữ chuẩn bị nhu yếu phẩm, thức ăn, nấu nướng.Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống văn hóa tinh thần của người Brâu có nhiều chuyển biến tích cực. Các lễ hội truyền thống như Lễ Phát rẫy, Lễ Trỉa lúa, Lễ Mở cửa kho lúa… được duy trì thường niên, góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Trong khuôn khổ Tuần Văn hóa Du lịch của tỉnh Quảng Ngãi, đồng bào Brâu tại thôn Đắk Mế, xã Pờ Y đã tổ chức Lễ Mở cửa kho lúa (Chul che pa pơm rar) nghi lễ truyền thống quan trọng nhằm xin phép Giàng và các đấng thần linh cho phép sử dụng lúa thóc tích trữ sau vụ mùa, đồng thời cầu mong mùa sau bội thu, dân làng no đủ. Công tác chuẩn bị cho lễ được tiến hành chu đáo. Già làng xem ngày lành, giờ tốt, sau đó thông báo để toàn thể dân làng cùng tham gia.
Chiêng tha - một loại nhạc cụ không thể thiếu trong nghi lễ Mở cửa kho lúa của người Brâu.Khi đã chọn được ngày đẹp, mỗi gia đình chuẩn bị rượu cần, gạo, heo, gà làm lễ vật. Đàn ông chỉnh sửa, lên dây chiêng; phụ nữ và các thiếu nữ dệt những bộ váy áo đẹp nhất để mặc trong ngày hội.
Vài ngày trước lễ, già làng kêu gọi mỗi gia đình góp một ghè rượu cần. Thanh niên vào rừng chặt mây đắng, chọn tre già, lồ ô dựng cây nêu; nhóm khác đi bẫy chim, bắt chuột. Phụ nữ xúc cá, hái rau rừng, lấy đọt mây non chuẩn bị thức ăn cho ngày hội. Một số người ở nhà trang trí khu vực cúng lễ.
Khi mọi khâu chuẩn bị hoàn tất, già làng chủ trì nghi lễ “Mở cửa kho lúa”, khấn xin phép và báo với Giàng. Lời khấn mời Giàng phương xa cùng các thần núi, thần sông về chứng giám, hưởng lễ vật; đồng thời cầu xin cho phép dân làng mang lúa, bắp trong kho ra sử dụng, phù hộ kho lúa luôn đầy, không bị chuột bọ phá hoại, cho “mẹ lúa” tiếp tục ấp ủ hạt giống để mùa sau bội thu, dân làng ấm no.
Già làng làm lễ khấn xin phép và thông báo với Giàng.Sau lời khấn, thầy cúng làm lễ giết gà, nướng gà; tiết gà được đựng trong ống lồ ô dâng cúng thần linh. Tiếp đó là nghi thức đốt thuốc Giàng (tầng hưm). Hương liệu rừng được cho vào ống lồ ô, đốt bằng lông gà tạo làn khói thơm đặt cạnh ghè rượu cần. Theo quan niệm của người Brâu, làn khói ấy là cầu nối dẫn thần linh về dự lễ, vui hội cùng dân làng.
Trong lễ Mở cửa kho lúa, nghi thức cúng chiêng tha (chê prả) giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Người Brâu quan niệm chiêng tha không chỉ là nhạc khí mà còn là hiện thân của thần linh, tổ tiên, là sợi dây kết nối cộng đồng với thế giới siêu nhiên. Trước khi đánh chiêng, già làng làm lễ mời tha ăn, tha uống; tiết gà được bôi vào lòng chiêng, rượu được rót vào chiêng trong lời khấn mời thành kính.
Khi việc hiến tế, dâng cúng đã hoàn tất, dân làng bắt đầu tổ chức ăn uống, đánh cồng chiêng múa xoang mừng hội thâu đêm suốt sáng.Khi các nghi thức kết thúc, dân làng quây quần ăn uống, đánh cồng chiêng, múa xoang mừng hội. Trong tiếng chiêng rộn ràng vang vọng giữa đại ngàn, người Brâu gửi gắm ước vọng thần linh và mẹ thiên nhiên phù hộ buôn làng bình yên, mưa thuận gió hòa, cộng đồng gắn bó, mùa màng tươi tốt, săn bắt hái lượm gặp nhiều may mắn.
Lễ Mở cửa kho lúa thể hiện sâu sắc mối quan hệ hài hòa giữa con người với cộng đồng, với thần linh và thiên nhiên. Không chỉ là sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội còn là không gian gắn kết các thế hệ, góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc Brâu, đồng thời khẳng định sức mạnh tinh thần của khối đại đoàn kết cộng đồng.