Công tác Dân tộc

Để văn hóa trở thành động lực của tăng trưởng hai con số

Mạnh Hà • 02/11/2026 10:59

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên. Để hiện thực hóa mục tiêu này, nền kinh tế cần huy động và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực nội sinh, đồng thời đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển.

Trong yêu cầu đó, văn hóa đang được đặt vào một vị trí mới: Không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn là nguồn lực có khả năng tạo ra sản phẩm, dịch vụ, việc làm, thu nhập và giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

1792726875424_2696847345752527487_2696847345752527487_372cd0cc1e959dd8317ed1d30a979433.jpg
Văn hóa DTTS làm nên bản sắc, đa dạng và độc đáo, góp phần tạo ra sinh kế bền vững cho người dân. Trong ảnh: Say đắm điệu xòe của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: Lê Anh Dũng

Vấn đề đặt ra là làm thế nào để những giá trị văn hóa vốn giàu tiềm năng của đất nước thực sự chuyển hóa thành nguồn lực phát triển, đóng góp thiết thực vào mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững.

Tại Hội nghị thông tin chuyên đề quý III năm 2026 do Đảng ủy Chính phủ tổ chức vừa qua, trong chuyên đề về vai trò của văn hóa đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, PGs.Ts. Nguyễn Thị Thu Phương - Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật, thể thao và du lịch (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) nhấn mạnh, văn hóa là nguồn lực nội sinh của phát triển, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng suất và trực tiếp tạo ra động lực tăng trưởng mới thông qua các ngành công nghiệp văn hóa như điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, nội dung số, du lịch văn hóa. Văn hóa đồng thời thực hiện chức năng điều tiết xã hội.

Theo PGs.Ts. Nguyễn Thị Thu Phương, muốn phát huy vai trò của văn hóa trong tăng trưởng nhanh và bền vững, cần làm cho văn hóa trở thành năng lực bên trong của nền kinh tế, động lực của sáng tạo và hệ điều tiết của xã hội.

Đó cũng là yêu cầu để đất nước phát triển hiện đại mà vẫn giàu bản sắc, hội nhập sâu rộng mà vẫn vững vàng tự chủ, gia tăng của cải đồng thời nâng cao phẩm giá và hạnh phúc của con người.

Nhận định này gợi mở một cách tiếp cận quan trọng: Phát huy nguồn lực văn hóa không dừng ở việc khai thác những giá trị sẵn có để tạo doanh thu, mà còn phải khơi dậy sức sáng tạo, nâng cao chất lượng con người và tạo dựng nền tảng cho sự phát triển bền vững.

Từ nguồn lực văn hóa đến giá trị kinh tế

Trong thời gian dài, khi nói đến đóng góp của văn hóa đối với sự phát triển, người ta thường nhấn mạnh vai trò bồi đắp đời sống tinh thần, giữ gìn bản sắc và xây dựng con người. Đây là những giá trị nền tảng, không thể thay thế.

Nhưng trong mô hình phát triển mới, văn hóa còn cần được nhìn nhận đầy đủ hơn ở phương diện kinh tế, với khả năng tạo ra những ngành nghề, sản phẩm, dịch vụ và thị trường có sức cạnh tranh.

“

Bảo tồn văn hóa trong kỷ nguyên số không chỉ là lưu giữ di sản, mà phải làm cho di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại, không chỉ số hóa để lưu trữ, mà phải số hóa để giáo dục, sáng tạo, lan tỏa và trở thành nguồn lực cho phát triển, cho công nghiệp văn hóa và cho trí tuệ nhân tạo của Việt Nam”.

(Trích bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 17/7/2026)

Thực tế cho thấy, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi điện tử, quảng cáo, thủ công mỹ nghệ và du lịch văn hóa đang từng bước hình thành những không gian kinh tế mới. Một chương trình nghệ thuật quy mô lớn có thể tạo doanh thu trực tiếp, đồng thời thu hút khách du lịch, thúc đẩy hoạt động lưu trú, ăn uống, vận tải và thương mại

Một di sản được bảo tồn, khai thác hợp lý có thể trở thành điểm đến du lịch, tạo sinh kế cho cộng đồng và mở ra cơ hội phát triển các sản phẩm đặc trưng của địa phương. Một sản phẩm văn hóa có bản sắc, nếu được đầu tư sáng tạo và tổ chức thị trường bài bản, có thể vượt khỏi phạm vi tiêu dùng trong nước để tiếp cận công chúng quốc tế.

Những ví dụ ấy cho thấy đóng góp của văn hóa không chỉ nằm ở doanh thu của từng hoạt động, mà còn ở khả năng kết nối nhiều ngành, lĩnh vực, tạo thêm việc làm và gia tăng giá trị cho các nguồn lực sẵn có. Văn hóa vì thế có thể trở thành một động lực tăng trưởng trực tiếp, đồng thời tạo sức lan tỏa tới du lịch, thương mại, dịch vụ và quảng bá hình ảnh quốc gia.

Theo báo cáo của Ban Tuyên giáo Trung ương về phát huy vai trò của văn hóa đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trong giai đoạn 2024 - 2025 và 5 tháng đầu năm 2026, các ngành công nghiệp văn hóa được ước tính đóng góp khoảng 4,8 - 5,2% GDP, với tốc độ tăng trưởng khoảng 7 - 8%/năm.

Sáu lĩnh vực trọng tâm gồm điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, trò chơi điện tử, du lịch văn hóa, quảng cáo và thủ công mỹ nghệ chiếm trên 70% tổng doanh thu các ngành công nghiệp văn hóa.

Những con số này cho thấy công nghiệp văn hóa đã có quy mô và xu hướng phát triển đáng chú ý. Tuy nhiên, báo cáo cũng lưu ý rằng các kết quả hiện nay mới phản ánh quy mô và xu hướng, chưa đủ cơ sở xác định chính xác mức đóng góp của văn hóa vào GDP, GRDP cũng như vào mức tăng trưởng hằng năm.

Vì vậy, cần nhìn nhận đúng những kết quả bước đầu, đồng thời tránh đồng nhất các ước tính về quy mô với khả năng đo lường đầy đủ tác động kinh tế của văn hóa.

2t3.jpg
Một sản phẩm văn hóa có bản sắc, nếu được đầu tư sáng tạo và tổ chức thị trường bài bản, có thể vượt khỏi phạm trong nước để tiếp cận công chúng quốc tế. Trong ảnh: Quần thể danh thắng Tràng An - Ninh Bình thu hút du khách trong và ngoài nước. Ảnh Tư liệu

Tiềm năng lớn, nhưng chưa được khai thác tương xứng

Việt Nam có nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, từ di sản lịch sử, kiến trúc, lễ hội, làng nghề đến nghệ thuật truyền thống, tri thức dân gian và sự đa dạng văn hóa của các cộng đồng dân tộc. Đây là những chất liệu quan trọng để sáng tạo sản phẩm, phát triển du lịch, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.

Nhưng tài nguyên văn hóa tự thân chưa tạo ra giá trị kinh tế nếu thiếu năng lực tổ chức, đầu tư, sáng tạo và kết nối thị trường.

Báo cáo chỉ rõ, thị trường sản phẩm, dịch vụ văn hóa tuy đã phát triển nhưng quy mô, chất lượng và sức cạnh tranh chưa tương xứng với tiềm năng.

Chuỗi giá trị ở một số ngành còn chưa hoàn chỉnh; liên kết giữa sáng tạo, sản xuất, phân phối, tiêu dùng và xuất khẩu chưa chặt chẽ.

Khả năng khai thác bản quyền, tài sản trí tuệ, phát triển thương hiệu và làm chủ những khâu tạo giá trị gia tăng cao còn hạn chế.

Nguồn nhân lực có khả năng kết hợp giữa văn hóa, nghệ thuật với công nghệ, kinh tế và quản trị còn thiếu.

Việc ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chưa đồng đều.

Công tác chuẩn hóa, kết nối, chia sẻ dữ liệu phục vụ sáng tạo và phát triển sản phẩm mới cũng chưa đáp ứng yêu cầu.

Những điểm nghẽn này khiến không ít giá trị văn hóa mới dừng lại ở tiềm năng hoặc được khai thác theo từng hoạt động riêng lẻ, chưa hình thành những sản phẩm có sức cạnh tranh và chuỗi giá trị đủ mạnh.

Muốn văn hóa đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng, điều cần thiết không đơn thuần là mở rộng số lượng sự kiện hay tăng quy mô đầu tư, mà phải nâng cao năng lực biến nguồn lực văn hóa thành giá trị kinh tế thực chất.

Đầu tư có trọng tâm, đo lường bằng hiệu quả

Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa đặt mục tiêu đến năm 2030, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP, hình thành từ 5 -10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa.

Đến năm 2045, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo phấn đấu đóng góp khoảng 9% GDP, thực sự trở thành trụ cột của phát triển bền vững.

Để đạt được những mục tiêu này, trước hết cần chuyển từ tư duy coi văn hóa chủ yếu là lĩnh vực cần đầu tư sang cách tiếp cận đầy đủ hơn: Đầu tư cho văn hóa cũng là đầu tư cho năng lực sáng tạo, sức cạnh tranh và những nguồn lực phát triển mới của đất nước.

Nghị quyết đặt yêu cầu bố trí tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa, đồng thời tăng dần theo yêu cầu thực tiễn. Điều quan trọng là nguồn lực phải được sử dụng có trọng tâm, gắn với nhiệm vụ, sản phẩm và kết quả đầu ra, tránh dàn trải hoặc chỉ chú trọng quy mô hoạt động.

Cùng với nguồn lực nhà nước, cần tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp, cộng đồng và các chủ thể sáng tạo tham gia phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa.

Các lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế và khả năng tạo giá trị gia tăng cao cần được lựa chọn để tập trung đầu tư; tăng cường liên kết giữa văn hóa với du lịch, thương mại, công nghệ và truyền thông; đẩy mạnh chuyển đổi số, bảo hộ và khai thác bản quyền, phát triển thương hiệu, mở rộng thị trường trong nước và quốc tế.

Một yêu cầu không kém phần quan trọng là xây dựng hệ thống thống kê, dữ liệu và phương pháp đo lường thống nhất.

Khi chưa xác định rõ quy mô, tốc độ phát triển và mức đóng góp của từng ngành, từng địa phương, việc hoạch định chính sách, lựa chọn lĩnh vực ưu tiên và phân bổ nguồn lực sẽ thiếu căn cứ đầy đủ.

Đánh giá hiệu quả phát triển văn hóa vì thế cần chuyển từ theo dõi tiến độ, nguồn lực đầu vào sang đo lường sản phẩm, giá trị tạo ra và đóng góp thực tế đối với tăng trưởng.

Tuy nhiên, phát huy giá trị kinh tế của văn hóa không đồng nghĩa với thương mại hóa bằng mọi giá.

Khai thác di sản, lễ hội hay các giá trị truyền thống phải gắn với bảo tồn, gìn giữ bản sắc và bảo đảm lợi ích của cộng đồng.

Nếu chỉ chạy theo doanh thu trước mắt mà làm suy giảm giá trị văn hóa, nguồn lực được khai thác hôm nay có thể trở thành tổn thất của ngày mai.

Tăng trưởng kinh tế cần tạo thêm điều kiện để đầu tư trở lại cho văn hóa, xây dựng con người và nâng cao đời sống tinh thần của Nhân dân.

Mục tiêu tăng trưởng hai con số đặt ra yêu cầu tìm kiếm và phát huy những động lực phát triển mới.

Văn hóa không thể một mình gánh vác mục tiêu ấy, nhưng nếu được nhìn nhận đúng vị trí, tháo gỡ những điểm nghẽn và tổ chức khai thác hiệu quả, văn hóa có thể đóng góp ngày càng rõ nét vào quá trình tạo ra giá trị gia tăng, mở rộng thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Điều cần làm lúc này là đưa những chủ trương và mục tiêu đã xác lập vào thực tiễn bằng sản phẩm cụ thể, thị trường thực chất và kết quả có thể đo lường. Khi đó, văn hóa mới thực sự trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển nhanh và bền vững.

    Để văn hóa trở thành động lực của tăng trưởng hai con số
    • Mặc định