“Lõm sóng mới” trong chuyển đổi số ở vùng cao
Các trạm phát sóng đã phủ khắp nhưng người dân đang gặp tình trạng: kết nối chập chờn, điện thoại quá cũ, biểu mẫu khó hiểu, dữ liệu chưa liên thông, khoảng cách ngôn ngữ giữa nền tảng và người dùng.

Từ "trắng sóng" đến sóng chập chờn
Ở vùng cao, “lõm sóng” từng là nơi điện thoại không hiện vạch tín hiệu. Nhưng khi các trạm phát sóng được phủ khắp, một dạng “lõm sóng” mới xuất hiện. Đó là có sóng nhưng chập chờn; có điện thoại nhưng không đủ cấu hình; có tài khoản nhưng không biết sử dụng; có nền tảng nhưng thiếu ngôn ngữ của người dân...
Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), đến tháng 6/2026, cả nước vẫn còn 435 thôn, bản chưa có sóng băng rộng di động.
Địa hình chia cắt, dân cư thưa khiến chi phí dựng trạm, kéo truyền dẫn và duy trì nguồn điện lớn, trong khi doanh thu thấp. Trớ trêu là vùng trắng sóng thường nằm ở nơi người dân cần kết nối nhất để giảm chi phí đi lại.
Nỗ lực đầu tư đã thu hẹp nhanh khoảng trống này. Tại Cao Bằng, riêng quý I/2026, Viettel xử lý phủ sóng 21 trong tổng số 91 thôn, xóm lõm sóng, giúp khoảng 620 hộ cải thiện kết nối. Đến tháng 5/2026, toàn tỉnh còn 69 thôn, xóm chưa có sóng hoặc sóng yếu; 29 điểm trong số đó chưa có điện lưới.
“Xóa lõm” không phải việc làm một lần là xong. Một địa bàn được tính đã phủ sóng vẫn có thể chỉ bắt được tín hiệu ở một sườn đồi hoặc vài khung giờ. Khi mưa lớn, mất điện hay nhiều người truy cập, kết nối lại suy giảm.
Như tại xã Bát Xát, tỉnh Lào Cai, đến tháng 5/2026, vẫn còn khoảng 10 thôn có sóng điện thoại và Internet rất yếu, trong đó có Trung Hồ, Láo Vàng, Suối Chải. Mạng chập chờn không chỉ làm cuộc gọi gián đoạn, mà còn khiến người dân khó nhận mã OTP, đăng nhập ứng dụng, hoặc hoàn thành một hồ sơ trực tuyến.
Đó chính là “lõm sóng mới” - bản đồ đã được tô màu, nhưng kết nối chưa đủ để người dân sống và làm việc trên môi trường số.
Sóng viễn thông chỉ là lớp đầu tiên. Nhiều hộ vẫn dùng điện thoại phổ thông hoặc điện thoại đời cũ, không cài được ứng dụng mới. Chi phí thiết bị và dữ liệu là khoản đáng kể với hộ nghèo. Nếu điện thoại dùng chung, người cao tuổi càng khó chủ động tiếp cận.
Người dân có thể dùng Zalo, xem video nhưng chưa chắc biết tạo tài khoản, quét giấy tờ, điền biểu mẫu, hay nhận diện đường dẫn giả. Việc sợ bấm sai khiến nhiều người nhờ cán bộ làm hộ. Hồ sơ được ghi nhận trực tuyến, nhưng năng lực số không tăng.
Bên cạnh đó, ngôn ngữ tạo thêm một lớp “lõm”. Bà Vàng Thị Dợ ở xã Nậm Ban, tỉnh Điện Biên cho biết, bà không hiểu hết các khái niệm số và mong muốn: “Nếu có Video hướng dẫn bằng tiếng dân tộc thì sẽ dễ hơn”. Nhiều nền tảng vẫn được thiết kế theo khả năng của người trẻ hoặc cán bộ, chưa xuất phát từ người lần đầu sử dụng.
Một “điểm lõm” khác nằm ngay trong hệ thống công quyền. Qua kiểm tra tại 34 tỉnh, thành phố, Bộ KH&CN ghi nhận thiết bị ở không ít xã còn cũ, manh mún; kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia có lúc gián đoạn; việc liên thông VNeID, dữ liệu hộ tịch và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành còn trục trặc. Một số xã thiếu cán bộ công nghệ thông tin chuyên trách. Khi phía tiếp nhận cũng thiếu thiết bị và nhân lực, người dân dù có điện thoại và sóng tốt vẫn có thể phải... chờ.
“Lõm sóng mới” vì thế có thể nằm trong điện thoại quá cũ, biểu mẫu khó hiểu, dữ liệu chưa liên thông, hoặc khoảng cách ngôn ngữ giữa nền tảng và người dùng.

Phủ sóng phải đi cùng phủ kỹ năng
Thực tế tại thôn Sơn Hà, xã Bát Xát cho thấy vai trò của “hạt nhân số” ở cơ sở. Trên Báo điện tử Chính phủ, Bí thư chi bộ Lê Mạnh Hùng đến từng hộ hướng dẫn người dân thực hiện thủ tục trên điện thoại. Khi tập trung tại nhà văn hóa, ông hướng dẫn trên máy tính.
Chị Chảo Tả Mẩy - người dân trong thôn đánh giá, việc hướng dẫn được thực hiện tận tình. Từ một yêu cầu có vẻ xa vời, công nghệ trở nên dễ tiếp cận khi có người chỉ dẫn ngay tại bản.
Cuối năm 2025, 100% xã, phường đã thành lập tổ công nghệ số cộng đồng, với 93.524 tổ và khoảng 457.820 thành viên. Lực lượng này chuyển ngôn ngữ kỹ thuật thành thao tác cụ thể: Cài VNeID, nộp hồ sơ, bảo vệ mã OTP, đưa nông sản lên mạng.
Nếu chỉ chạy theo số tổ, “lõm kỹ năng” khó được lấp đầy. Thành viên phần lớn kiêm nhiệm, kinh phí hạn chế, trong khi ứng dụng liên tục thay đổi. Họ cần được cập nhật kiến thức, có tài liệu bằng tiếng dân tộc; đồng thời chuyển từ làm hộ sang hướng dẫn để người dân tự thao tác.
Một buổi hướng dẫn thành công không nên chỉ được tính bằng số tài khoản đã kích hoạt. Quan trọng hơn là sau buổi hướng dẫn, người dân có thể tự đăng nhập, kiểm tra thông tin, nhận biết đường dẫn chính thức và bảo vệ mật khẩu. Nếu lần làm thủ tục tiếp theo họ vẫn phải mang điện thoại đến nhờ cán bộ, “lõm kỹ năng” thực chất chưa được khắc phục.
Các tổ công nghệ số cộng đồng cũng cần được đặt trong hệ thống hỗ trợ lâu dài. Thành viên phải có nơi hỏi khi nền tảng thay đổi, có tài liệu minh họa, thiết bị thực hành và kinh phí đi đến các bản xa. Giáo viên, đoàn viên thanh niên, trưởng bản và Người có uy tín biết tiếng dân tộc có thể trở thành những “phiên dịch viên số” gần dân nhất.

Không thể chỉ tính bài toán doanh thu
Trên Báo Cao Bằng, Thiếu tá Đào Duy Thái - Giám đốc Viettel Cao Bằng nhìn nhận: đầu tư tại khu vực dân cư thưa có chi phí lớn nhưng hiệu quả khai thác thấp, vì vậy cần sự hỗ trợ của cơ chế, chính sách. Còn ông Nguyễn Chí Dũng - Giám đốc VNPT Cao Bằng, cho rằng: việc đầu tư vào các thôn lõm sóng không thể chỉ tính bằng hiệu quả kinh tế.
Trạm phát sóng ở bản vài chục hộ có thể không sinh lời nhanh, nhưng giá trị từ cảnh báo thiên tai, tư vấn y tế, học trực tuyến và thị trường nông sản lớn hơn doanh thu viễn thông trực tiếp.
Chính sách xóa “lõm sóng mới” vì thế cần đi theo gói đồng bộ: Điện, cáp truyền dẫn, trạm phát sóng, thiết bị đầu cuối, gói cước phù hợp, kỹ năng số và nội dung bản địa. Với nơi địa hình quá khó để dựng trạm mặt đất, có thể tính đến Internet vệ tinh, hoặc nguồn điện độc lập. Chất lượng phải được đo tại khu dân cư và thời điểm người dân thực sự sử dụng, thay vì chỉ căn cứ vùng phủ mô phỏng.
Cần có cơ chế để người dân báo điểm sóng yếu và theo dõi xử lý. Tiêu chí không nên chỉ là bao nhiêu thôn “có sóng”, mà phải gồm tốc độ, độ ổn định, tỷ lệ hộ có thiết bị, khả năng chi trả và số người tự dùng được dịch vụ thiết yếu.
Chuyển đổi số vùng cao chỉ có ý nghĩa khi một người dân ở bản xa có thể nhận cảnh báo, gọi trợ giúp, học tập, bán hàng và làm thủ tục mà không phải đi tìm một mỏm đồi có sóng. Xóa vùng trắng là bước đầu, lấp “lõm sóng mới” mới là chặng đường quyết định để kết nối trở thành cơ hội phát triển và không ai bị bỏ lại phía sau.


