Khoa học tới bản

Mã số vùng trồng trở thành “tấm vé” đưa nông sản Gia Lai ra thị trường lớn

Ngọc Thu • 28/09/2026 06:12

Mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói, nếu được quản lý chặt chẽ, duy trì hiệu quả, sẽ trở thành “tấm vé” giúp các vùng nguyên liệu chủ lực của Gia Lai nâng giá trị nông sản, tăng sức cạnh tranh và mở rộng thị trường xuất khẩu.

Các đại biểu tham quan mô hình trồng chanh dây của Công ty Cổ phần Tập đoàn Nafoods. Ảnh: Ngọc Thu
Các đại biểu tham quan mô hình trồng chanh dây. Ảnh: N.T

Mở rộng thị trường cho nông sản

Việc gắn mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói với tổ chức sản xuất, truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ đang trở thành yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng, minh bạch thông tin và giữ vững thị trường cho nông sản.

Theo Nghị quyết 36/2026/NQ-CP ban hành ngày 31/7/2026, thủ tục cấp mã được đơn giản hóa, thực hiện trực tuyến theo hướng tự khai, tự chịu trách nhiệm và hậu kiểm. Sau 55 ngày triển khai, cả nước đã cấp mới 787 mã số vùng trồng.

Gia Lai là một trong những địa phương triển khai sớm việc cấp mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói. Tỉnh đã thu thập dữ liệu của 7.350 ha cà phê thuộc 5.205 hộ và gần 970 ha sầu riêng của 712 hộ để phục vụ việc cấp mã.

img_5774.jpg
Tỉnh Gia Lai đã cấp 424 mã số vùng trồng xuất khẩu với vùng nguyên liệu cà phê, chanh leo, sầu riêng. Ảnh: N.T

Bà Nguyễn Thị Tố Chân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai, cho biết toàn tỉnh đã được cấp, phê duyệt 381 mã số vùng trồng xuất khẩu với tổng diện tích hơn 12.660 ha; cùng 60 mã số cơ sở đóng gói xuất khẩu, có tổng công suất từ 3.570 - 3.840 tấn/ngày.

Sau 55 ngày thực hiện Nghị quyết 36, địa phương cấp thêm 43 mã số vùng trồng, nâng tổng số mã của toàn tỉnh lên 424.

Trong bối cảnh nhiều thị trường ngày càng siết chặt yêu cầu kiểm dịch, mã số vùng trồng giúp xác định nguồn gốc nông sản, kiểm soát quy trình sản xuất và trở thành một trong những điều kiện để hàng hóa đi vào các thị trường xuất khẩu.

Ông Lê Hoàng Linh, Giám đốc vùng trồng Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Hưng Sơn, cho biết từ khoảng 100 ha ban đầu, doanh nghiệp đã mở rộng vùng nguyên liệu chuối xuất khẩu lên 400 ha, với 7 mã số vùng trồng và 3 mã số cơ sở đóng gói.

“Việc mở rộng diện tích vùng nguyên liệu phải bảo đảm quy trình sản xuất đồng bộ, chất lượng ổn định, truy xuất được nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu”, ông Linh nói.

Cấp được mã mới chỉ là bước đầu

Dù số lượng mã vùng trồng ngày càng tăng, công tác quản lý, duy trì vẫn đối mặt nhiều khó khăn.

Địa bàn rộng, số lượng mã lớn trong khi nhân lực kiểm tra, giám sát còn hạn chế. Sản xuất nông nghiệp tại một số nơi vẫn nhỏ lẻ, phân tán; liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp chưa thực sự bền vững.

Khả năng tiếp cận công nghệ, cập nhật và duy trì dữ liệu của một bộ phận người dân, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cũng còn hạn chế.

Ông Vinh, thôn Bot Grek, xã KDang, chia sẻ trước đây ông và nhiều hộ đồng bào Ba Na chưa hiểu rõ mã số vùng trồng là gì và mang lại lợi ích ra sao.

“Được cán bộ hướng dẫn, chúng tôi hiểu đây là cách để quản lý, truy xuất nguồn gốc và nâng cao giá trị sản phẩm. Bà con rất đồng tình và mong muốn tiếp tục được hướng dẫn cụ thể. Hiện địa phương và HTX đang hỗ trợ để bà con được cấp mã, từ đó sản xuất bài bản hơn”, ông Vinh nói.

HTX Sản xuất, Thương mại, Dịch vụ, Du lịch nông nghiệp Ia Mơ Nông, xã Ia Ly, hiện có 600 thành viên và hộ dân liên kết, với khoảng 800 ha chanh dây, sầu riêng và cà phê.

Ông Lê Văn Thanh, Giám đốc HTX, cho biết đơn vị đã được cấp 6 mã số vùng trồng phục vụ tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Theo ông Thanh, có được mã số chưa phải là đích đến. Để duy trì mã, HTX phải thường xuyên kiểm soát chất lượng, tuân thủ quy trình sản xuất và bảo đảm hồ sơ truy xuất. Chỉ một vi phạm về dư lượng hoặc hồ sơ không đầy đủ cũng có thể khiến mã số bị cảnh báo, thậm chí thu hồi, kéo theo nguy cơ ảnh hưởng đến đầu ra của cả vùng.

z7938379891476ff14e8abdef4583fa6038daa64a6e982-1781908694506.jpg
Mã số vùng trồng khi được quản lý chặt chẽ và duy trì hiệu quả sẽ giúp các vùng nguyên liệu chủ lực của Gia Lai nâng cao giá trị. Ảnh: N.T

Theo ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, xây dựng mã số vùng trồng mới chỉ là bước đầu. Quan trọng hơn là quản lý, duy trì mã số và đưa các yêu cầu kỹ thuật vào thực tế sản xuất.

Muốn làm được điều đó, hai yếu tố cần đặc biệt chú trọng là con người và công nghệ số. Hệ thống khuyến nông phải nâng cao năng lực, làm chủ công nghệ và quy trình quản lý mã số; trong khi người dân cần thay đổi phương thức sản xuất, tuân thủ tiêu chuẩn và tạo giá trị từ từng sản phẩm.

“Thời gian tới, hệ thống khuyến nông cộng đồng sẽ tăng cường hướng dẫn người dân tổ chức sản xuất, đào tạo lực lượng cơ sở, kết nối doanh nghiệp với HTX và nông dân; đồng thời tổng hợp khó khăn, vướng mắc để kiến nghị tháo gỡ.

Lực lượng khuyến nông sẽ trực tiếp đồng hành cùng bà con ngay tại vườn chanh dây, rẫy cà phê, hỗ trợ từ sản xuất đến khai báo, cập nhật thông tin trên môi trường điện tử và xử lý kịp thời những vấn đề phát sinh”, ông Lê Quốc Thanh nhấn mạnh.

    Mã số vùng trồng trở thành “tấm vé” đưa nông sản Gia Lai ra thị trường lớn
    • Mặc định