Nước sinh hoạt cho vùng đồng bào DTTS: Từ có công trình đến có nước an toàn
Giải quyết nước sinh hoạt cho vùng đồng bào DTTS và miền núi trong giai đoạn 2026 - 2030, không chỉ là đầu tư thêm công trình, mà là bảo đảm người dân có nước sạch, ổn định, an toàn và dùng được quanh năm.

Ở nhiều thôn, bản vùng cao, thiếu nước sinh hoạt vẫn là nỗi lo thường trực, nhất là vào mùa khô. Với người dân vùng đồng bào DTTS và miền núi, nước không chỉ phục vụ ăn uống, tắm giặt, mà còn gắn trực tiếp với sức khỏe, vệ sinh môi trường, học tập của trẻ em và chất lượng sống tối thiểu.
Khi nguồn nước ở xa, không ổn định hoặc chưa được xử lý bảo đảm, người dân phải trả thêm chi phí bằng thời gian, sức lao động và rủi ro bệnh tật.
Phụ nữ, trẻ em là những người chịu tác động nhiều nhất. Trường học, trạm y tế, nhà sinh hoạt cộng đồng nếu thiếu nước sạch cũng khó bảo đảm điều kiện phục vụ người dân.
Vì vậy, nước sinh hoạt cần được nhìn nhận là một trụ cột của an sinh xã hội ở vùng khó khăn, không chỉ là một hạng mục hạ tầng.
Khoảng cách giữa “có nước” và “nước đạt chuẩn”
Những năm qua, Việt Nam đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong cấp nước nông thôn. Tỷ lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đã đạt khoảng 97,9%.
Tuy nhiên, tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn từ công trình cấp nước tập trung mới khoảng 54,4%, tương đương gần 8,9 triệu hộ.
Điều này cho thấy, thách thức lớn của giai đoạn tới không phải chỉ là “có nước”, mà là “nước đạt chuẩn, an toàn và bền vững”.

Khoảng cách vùng miền cũng rất rõ. Trong khi Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ hộ dùng nước sạch đạt quy chuẩn từ công trình tập trung tương đối cao, thì Trung du và miền núi phía Bắc mới đạt khoảng 25%; Bắc Trung Bộ khoảng 34,9%; Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên khoảng 33,9%.
Đây lại chính là những vùng có đông đồng bào DTTS, địa hình chia cắt, dân cư phân tán, suất đầu tư cao và chịu tác động ngày càng rõ của hạn hán, suy giảm nguồn nước, xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu.
Do đó, giai đoạn 2026 - 2030 cần cách tiếp cận theo vùng, theo cụm dân cư và theo điều kiện nguồn nước, thay vì áp dụng một mô hình chung cho mọi địa bàn.
Điểm nghẽn nằm ở vận hành sau đầu tư
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước hiện có 17.588 công trình cấp nước tập trung nông thôn. Tuy nhiên, chỉ khoảng 27,04% hoạt động bền vững, 27,6% hoạt động tương đối bền vững; trong khi 29% hoạt động kém bền vững và 16,35% không hoạt động.
Nói cách khác, gần một nửa số công trình cấp nước tập trung đang có vấn đề về tính bền vững. Nhiều công trình quy mô nhỏ, do xã, hợp tác xã hoặc cộng đồng quản lý, gặp khó khăn về kỹ thuật vận hành, kinh phí bảo trì, chất lượng nguồn nước và khả năng thu phí.
Thực tế này cho thấy, thành công không thể chỉ đo bằng số công trình đã xây, số bể chứa đã hoàn thành hay số tuyến ống đã kéo. Một công trình sau nghiệm thu nhưng thiếu nước vào mùa khô, không có kinh phí sửa chữa, không kiểm tra chất lượng nước định kỳ thì chưa thể coi là một dịch vụ cấp nước an toàn.
Giai đoạn tới cần chuyển từ tư duy “đầu tư công trình” sang “bảo đảm dịch vụ nước sinh hoạt”. Chỉ tiêu cần theo dõi phải là số hộ được dùng nước đạt chuẩn, thời gian cấp nước trong năm, chất lượng nước sau xử lý, khả năng chi trả của người dân và cơ chế xử lý khi công trình hư hỏng.

Đầu tư phải có trọng tâm
Theo tính toán sơ bộ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng nhu cầu đầu tư cho cấp nước sạch nông thôn đến năm 2030 khoảng 94.168 tỷ đồng.
Trong đó, khoảng 85.760 tỷ đồng dành cho xây dựng mới, nâng cấp, sửa chữa công trình cấp nước sạch nông thôn tập trung; khoảng 8.408 tỷ đồng để hỗ trợ cấp, trữ và xử lý nước cho 336.330 hộ chưa được tiếp cận nước sinh hoạt hợp vệ sinh.
Nhu cầu về nguồn lực lớn như vậy đòi hỏi đầu tư cho cấp nước sạch phải có trọng tâm, đầu tư theo lộ trình và xác định các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn. Ưu tiên cần dành cho vùng đồng DTTS, miền núi, biên giới, hải đảo, vùng khan hiếm nước, vùng chịu tác động nặng của hạn hán, xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu.
Với Trung du và miền núi phía Bắc, cần ưu tiên công trình trữ nước, dẫn nước tự chảy, cấp nước nhóm hộ, nâng cấp công trình hiện có và bảo vệ nguồn sinh thủy.
Với Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ, cần tập trung vào giải pháp thích ứng hạn hán, bể trữ nước cộng đồng, khai thác nước dưới đất có kiểm soát, bơm năng lượng mặt trời và công nghệ xử lý phù hợp.
Với Đồng bằng sông Cửu Long, trọng tâm phải là trữ nước ngọt mùa mưa, cấp nước liên vùng và xử lý nước lợ, nước mặn ở quy mô phù hợp.
Trước khi xây mới, cần kiểm kê toàn bộ công trình hiện có. Công trình nào còn nguồn nước, còn dân cư hưởng lợi và có khả năng phục hồi thì ưu tiên sửa chữa, nâng cấp.
Công trình nào không còn khả thi cần xử lý dứt điểm, tránh tình trạng tồn tại trên hồ sơ nhưng không phục vụ được người dân.
Cấp nước hộ gia đình cũng phải được chuẩn hóa
Không phải thôn, bản nào cũng phù hợp với công trình cấp nước tập trung. Ở nhiều nơi dân cư phân tán, nhà cách xa nhau, địa hình phức tạp, giải pháp cấp nước quy mô hộ gia đình hoặc nhóm hộ vẫn rất cần thiết.
Hiện vẫn còn khoảng 46% hộ nông thôn sử dụng các công trình quy mô hộ gia đình như giếng đào, giếng khoan, bể chứa nước mưa, nước mạch lộ. Đây là thực tế cần được chuẩn hóa, thay vì coi là giải pháp tạm thời.
Nhà nước cần có hướng dẫn kỹ thuật tối thiểu đối với bể chứa, thiết bị lọc, khai thác giếng, thu gom nước mưa, bảo quản nước sau xử lý và kiểm tra chất lượng định kỳ. Hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ một phần chi phí thiết bị, kết hợp tập huấn kỹ thuật cho hộ dân sẽ giúp mô hình này an toàn hơn.
Đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, gia đình chính sách ở vùng đặc biệt khó khăn, cần có cơ chế hỗ trợ trực tiếp để bảo đảm quyền tiếp cận nước sạch ở mức tối thiểu.

Vai trò của chính quyền địa phương là yếu tố then chốt
Nước sinh hoạt là lĩnh vực liên ngành, liên quan đến hạ tầng kỹ thuật, tài nguyên nước, thủy lợi, y tế, môi trường, đầu tư công, giá nước và an sinh xã hội.
Nếu không phân định rõ trách nhiệm, rất dễ xảy ra tình trạng có công trình nhưng thiếu đơn vị vận hành; có vốn đầu tư nhưng thiếu kinh phí bảo trì; có hệ thống cấp nước nhưng chất lượng nước không được kiểm soát thường xuyên.
Trong hệ thống quản lý hiện nay, Bộ Xây dựng có vai trò quan trọng trong hoàn thiện khung pháp lý chung về cấp nước, thoát nước, hạ tầng kỹ thuật, hoạt động kinh doanh nước sạch và bảo đảm cấp nước an toàn.
Đây là nền tảng để hình thành dịch vụ nước sạch minh bạch, có tiêu chuẩn kỹ thuật, có trách nhiệm của đơn vị cấp nước và bảo đảm quyền của người sử dụng nước.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường có vai trò trực tiếp đối với cấp nước sạch nông thôn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Lĩnh vực này gắn chặt với thủy lợi, nguồn nước, công trình trữ nước, hạn hán, xâm nhập mặn, bảo vệ nguồn sinh thủy và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Bộ Y tế giữ vai trò về quy chuẩn chất lượng nước dùng cho sinh hoạt. Chính quyền địa phương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện trên địa bàn, từ bố trí nguồn lực, giao đơn vị quản lý, kiểm tra vận hành đến theo dõi chất lượng nước và xử lý kịp thời khi công trình hư hỏng, hoặc người dân thiếu nước.
Vì vậy, giai đoạn 2026 - 2030 cần một cơ chế quản lý rõ trách nhiệm, giảm phân tán đầu mối và lấy người dân làm trung tâm. Việc chuẩn hóa tiêu chuẩn dịch vụ, cấp nước an toàn, giá dịch vụ, hợp đồng dịch vụ phải gắn với quản lý đầu tư các chương trình cấp nước sạch nông thôn, dữ liệu công trình, điều phối nguồn nước và lựa chọn mô hình cấp nước phù hợp cho từng vùng.
Kinh nghiệm triển khai chính sách công ở vùng đồng bào DTTS và miền núi cho thấy vai trò của chính quyền địa phương là then chốt. Chỉ khi các địa phương chịu trách nhiệm và trả lời rõ được các câu hỏi: ai quản lý công trình, ai vận hành, kinh phí bảo trì lấy từ đâu, ai kiểm tra chất lượng nước, ai xử lý khi công trình hỏng, nước sạch nông thôn mới thực sự trở thành một dịch vụ công bền vững, thay vì chỉ là một hạng mục đầu tư.
Nước sạch là tiêu chí của công bằng phát triển
Mục tiêu đến năm 2030 là 80% hộ dân nông thôn được sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn. Với vùng đồng bào DTTS và miền núi, mục tiêu này cần được cụ thể hóa đến từng địa bàn, từng nhóm dân cư, từng thôn bản khó khăn.
Tuy nhiên, cần phải đặc biệt lưu ý, việc không nên để con số bình quân chung che khuất những nơi vẫn thiếu nước, những trường học chưa có nước sạch, những hộ nghèo vẫn phải dùng nguồn nước không ổn định.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2026 - 2030, là cần tập trung vào các nhiệm vụ rõ ràng: lập bản đồ thiếu nước đến cấp thôn, bản; ưu tiên sửa chữa công trình hiện có; đầu tư mới có trọng tâm theo vùng; chuẩn hóa mô hình cấp nước hộ gia đình và nhóm hộ; bắt buộc thực hiện cấp nước an toàn; hoàn thiện cơ chế giá nước, hỗ trợ giá và cơ sở dữ liệu.
Khi một bản làng có nước sạch quanh năm, trẻ em khỏe mạnh hơn, phụ nữ bớt gánh nặng hơn, trạm y tế và trường học hoạt động tốt hơn, sinh kế ổn định hơn và niềm tin của người dân vào chính sách được củng cố.
Nước sinh hoạt cho vùng đồng bào DTTS vì thế không chỉ là một công trình cần xây, mà là một cam kết về công bằng phát triển. Giai đoạn 2026 - 2030 phải là giai đoạn chuyển từ “có công trình” sang “có dịch vụ”, từ “nước hợp vệ sinh” sang “nước sạch đạt chuẩn”, từ “đầu tư phân tán” sang “bảo đảm an ninh nước cho người dân trong mọi tình huống”.



