Vỏ quả bầu khô gác bếpMỗi năm, đồng bào các DTTS ở Tây Nguyên thường gieo trồng bầu, bí thành hai đợt. Đợt thứ nhất, trồng ngay sau lúc đốt rẫy, khi tro chưa tan, để có hoa trái ăn vào những tháng đầu mùa, thu hoạch vừa hết khi mùa mưa xuống. Đợt thứ hai, bà con mang hạt giống trộn với lúa giống rồi trỉa chung cùng một lúc. Bằng cách này, người chủ rẫy sẽ có bầu, bí, dưa, mướp để ăn vào những tháng cuối năm.
Sau một vài tháng gieo trồng, cây bầu mọc lan dài dưới đất. Từ lúc mọc đến khi có quả già cần khoảng 3 đến 5 tháng. Quả non được thu hoạch làm thực phẩm. Quả đẹp thì để dành đến khi thật già, thật khô mới hái về bảo quản và chế tác thành các vật dụng. Quả bầu khô được moi lấy hết phần ruột, mang phơi nắng rồi treo trên giàn bếp để bảo quản và tạo màu đen óng nhờ khói bếp.
Đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên là cư dân nông nghiệp lúa rẫy, vì vậy quả bầu là một sản vật không thể thiếu trong đời sống hằng ngày và ẩm thực. Quả bầu khô được dùng để làm gáo múc nước, đựng gạo, muối ăn, làm bát, tô ăn cơm... Xưa kia, người phụ nữ Tây Nguyên thường dậy sớm giã gạo trước khi đi làm rẫy. Gạo sau khi giã xong sẽ được cất giữ trong quả bầu khô, treo trên mái nhà để nấu ăn trong vài ngày.
Quả bầu lớn thường được đồng bào Mnông dùng để đựng cơm và thức ăn mang đi rẫy. Mỗi buổi sáng, khi nấu nướng xong, phụ nữ xới cơm, múc canh, phân chia cho mọi người đem theo để ăn trưa khi đi làm ở nương, rẫy xa nhà. Đồng bào Ê Đê cũng dùng quả bầu khô để chế tác nhiều vật dụng như đựng cháo chua, làm tô, chén ăn cơm, đựng gạo.
Người phụ nữ Ê Đê giới thiệu mâm cỗ với vật dụng chủ yếu bằng vỏ bầu khôTrước đây, khi chưa có nồi nhôm, nồi đồng, bà con vùng cao thường nấu bằng ống nứa, ống giang và hông, hấp bằng nồi đất, hoặc bằng vỏ bầu, còn gọi là nồi chõ, nhất là để nấu xôi. Tương tự, người Mnông chọn quả bầu già, vỏ dày, có nhét xơ mướp bên trong dùng để nấu cơm, đồ xôi. Đây là cách nấu khá phổ biến của đồng bào dân tộc ở vùng Tây Nguyên. Trước khi nấu, người ta cho gạo vào bầu ngâm trong nước một đêm rồi bắc nồi nước lên đun sôi, sau đó kê bầu gạo vào hấp. Hơi nước bay lên luồn vào bầu gạo, nhờ hơi nóng xông lên làm cho bầu gạo phía trên chín. Cơm hấp ăn rất ngon, nhất là gạo nếp thì càng dẻo thơm.
Tùy theo hình dáng quả bầu: Tròn, dài, thắt eo mà đồng bào chế tác nên những dụng cụ thích hợp, tiện lợi khi dùng và có tính thẩm mỹ. Những quả thuôn dài thì được làm môi múc canh, gáo múc nước, hoặc bổ dọc để làm dụng cụ tiếp nước vào ché rượu cần.
Bên cạnh phục vụ cho nhu cầu cuộc sống hằng ngày, quả bầu còn được sử dụng trong các lễ hội dân gian, các nghi thức cúng Yang của các dân tộc. Người Ê Đê bổ đôi quả bầu rỗng ruột để làm thành “thác rượu”, bằng cách rót rượu từ vỏ bầu này để chảy tràn sang vỏ bầu khác giống như dòng thác rượu để mời khách quý khi có lễ hội đặc biệt. Đó là cách dâng rượu rất độc đáo như lời mời gọi men say.
Quả bầu có đeo thêm một chiếc vòng sắt hoặc bằng đồng ở chỗ thắt eo thì chuyên dùng để đựng gạo cúng thần lúa. Quả bầu dài, cắt một phần làm vụt rót gạo vào bầu, quả bầu đựng thức ăn cho gà, quả bầu có khoét rỗng trên thân và vài lỗ thông hơi dùng để nuôi chim cảnh giống như một cái lồng... Quả bầu gắn bó mật thiết với người phụ nữ các dân tộc bởi nó là vật dụng cần thiết trong lao động, sinh hoạt đời thường và lễ hội cổ truyền. Chỉ cần nhìn vào gian bếp của mỗi gia đình cũng đủ thấy vai trò của quả bầu khô trong đời sống của người dân miền núi.
Đối với đồng bào ở Tây Nguyên, quả bầu là dụng cụ để đựng và lấy nước ăn là thích hợp nhất. Ngày nào người phụ nữ cũng có vài chuyến cõng nước, lúc sáng sớm trước khi đi làm hoặc chiều tối sau khi đi nương về. Hình ảnh gùi nước trên lưng rất đỗi thân quen, gợi lên nét đẹp nữ tính của phụ nữ miền sơn cước.
Ngoài việc chế biến những món ăn, đồng bào còn tận dụng quả bầu khô để làm vật dụng phục vụ cho đời sống ẩm thực. Quả bầu có thể dùng để đựng món ăn, thức uống, sắp đặt và bày biện chúng trong bữa cơm gia đình hay dọn cỗ trong các lễ hội cộng đồng.
Thời gian gần đây, hoạt động giao lưu văn hóa, du lịch cộng đồng và văn hóa ẩm thực dân tộc được coi trọng. Ẩm thực xanh, sạch, an toàn là một tiêu chí để thẩm định giá trị đặc sản ẩm thực. Các cuộc thi ẩm thực, hội chợ ẩm thực, chợ phiên vùng cao đều khuyến khích sử dụng những nguyên liệu có sẵn để trang trí, bày biện, chứa đựng đồ ăn, thức uống.
Đặc biệt, ở một số điểm du lịch cộng đồng, những món ăn truyền thống được dọn trên lá chuối, ống tre, mâm mây..., hay sử dụng vỏ bầu khô làm tô, bát đựng các món đặc sản làm tăng thêm sức hấp dẫn và giá trị của ẩm thực truyền thống.