“Báu vật” của người Ca Dong trên đỉnh Long Sơn
Ở Long Sơn, bản sắc văn hoá - “báu vật” của người Ca Dong hiện diện trong đời sống thường nhật, từ ngày mùa lên rẫy, đến những lễ hội của cộng đồng.

Để tiếng chiêng Ca Dong ngân xa
Ở thôn Long Sơn, xã Trà My, TP. Đà Nẵng, nghệ nhân Đinh Văn Linh, 54 tuổi, là một trong những người gắn bó lâu năm với các loại nhạc cụ và nghi lễ truyền thống của người Ca Dong (nhóm địa phương thuộc dân tộc Xơ Đăng).
Học đánh chiêng từ những người lớn tuổi từ nhỏ, khi ở tuổi đôi mươi, ông thành thạo từng nhịp trống, điệu chiêng. Theo ông, trong biểu diễn, một đội cồng chiêng có ít nhất 4 người, gồm người đánh trống, người gõ chiêng và hai người đánh thanh la.

Trong đời sống văn hóa của người Ca Dong, cồng chiêng được sử dụng trong hầu hết các lễ hội như cúng lúa mới, cúng sấm, hay lễ đâm trâu huê. Mỗi nghi lễ có nhịp đánh riêng.
Không chỉ đánh chiêng, đánh trống, ông Linh còn tham gia làm cây nêu truyền thống. Theo ông, đây là công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ và hiểu biết về phong tục của người Ca Dong.

“Làm cây nêu mất nhiều ngày, cần sự tỉ mỉ trong từng khâu thực hiện. Một số công đoạn phải đợi đến lúc dựng nêu mới có thể hoàn thiện. Đó là phong tục của làng, của người Ca Dong ở Long Sơn” ông Linh nói.
Cũng theo ông Linh, hoa văn trên thân cây nêu được vẽ rất tỉ mỉ, gắn với văn hóa địa phương. Việc tạo hình cũng phải khéo léo ở từng công đoạn, những người am hiểu mới làm được” ông nói.

Nhiều năm qua, ông Linh là một trong những người nòng cốt của đội văn nghệ thôn. Đội hiện có 26 thành viên, trong đó nam giới chủ yếu biểu diễn nhạc cụ, phụ nữ tham gia các điệu múa truyền thống.
“Mừng nhất là các cháu nhỏ vẫn rất đam mê các lễ hội truyền thống và muốn học hỏi cách đánh trống, đánh chiêng, múa truyền thống. Những người lớn như mình biết gì thì chỉ lại, để các em tiếp nối”, ông Linh chia sẻ thêm.
Gìn giữ nét đẹp văn hóa trăm năm
Phía trên con dốc đầu thôn, ông Hồ Văn Giác vẫn cặm cụi với nan tre và những chiếc gùi còn mới. Ông là một trong những người hiếm hoi còn giữ nghề đan lát trên đỉnh Long Sơn.

Ngoài 70 tuổi, đôi tay ông vẫn thoăn thoắt trên những chiếc nan. Chỉ vỏn vẹn khoảng 30 phút, từ một nắm sợi trên tay, chiếc giỏ đã dần thành hình.
Theo ông, để làm ra một chiếc gùi phải mất 5 ngày, từ chẻ tre, vót mây đến đan thành phẩm. Vót nan cho đều, mối đan phải khít, đi mây quanh viền phải biết cách thì món đồ làm ra mới đẹp.

Với một người có thâm niên hơn 30 năm trong nghề như ông, những vật dụng được làm ra nhiều vô kể, từ gùi, giỏ, cho đến nong, nia, mủng hay những vật làm quà lưu niệm.
Trong không gian nhà bếp, phía góc tường đối diện cửa ra vào, ông dành để treo những chiếc gùi mới hoàn thành. Những bó nan vót sẵn, ông để trên giàn, gần những chiếc sàng, chiếc rổ đang làm dở...

“Chiếc gùi giá 300.000 đồng, túi xách 500.000 đồng hay chiếc khay lớn với giá gần 1 triệu đồng…, nếu đầu ra sản phẩm tốt có thể khôi phục được nghề này”, ông chia sẻ thêm.
Không chỉ giữ lửa nghề truyền thống, già Giác còn am hiểu nhiều nét đẹp văn hóa của người Ca Dong. Trong các lễ hội, lễ cúng của địa phương, ông là người đứng ra thực hiện các nghi lễ, bài cúng.

Hơn nữa, ông còn sành sỏi cách biểu diễn nhiều nhạc cụ truyền thống của đồng bào mình. Từ đánh trống, chiêng, đến thổi khèn, kể cả trang trí cây nêu, ông đều thành thạo.
Bà Võ Thị Thúy Hằng - Phó Chủ tịch UBND xã Trà My, cho biết: Địa phương xác định bảo tồn văn hóa phải đi cùng với đời sống người dân.

Thời gian qua, xã quan tâm duy trì các lễ hội truyền thống, phát huy vai trò của nghệ nhân và những người am hiểu văn hóa trong việc truyền dạy cho thế hệ trẻ. Cùng với đó, địa phương từng bước gắn bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch.
“Các nghệ nhân là những người đang lưu giữ vốn văn hóa quý của cộng đồng. Địa phương mong muốn những giá trị này tiếp tục được trao truyền cho thế hệ trẻ, đồng thời gắn với phát triển du lịch để tạo thêm sinh kế cho người dân”, bà Hằng cho biết.

Ở Long Sơn, “báu vật” văn hóa vì thế không nằm ở những hiện vật quý hiếm. Đó là cây nêu được dựng giữa làng, là nhịp chiêng vang lên trong ngày hội, là chiếc gùi theo người dân lên rẫy và cả những đôi tay vẫn miệt mài truyền nghề cho lớp trẻ.
Khi những giá trị ấy còn được sử dụng, còn được trao truyền và tạo ra sinh kế, văn hóa truyền thống của người Ca Dong sẽ không chỉ được bảo tồn, mà tiếp tục phát huy trong đời sống cộng đồng ở vùng cao.



