Chuyển đổi số và “quyền kể chuyện” của đồng bào dân tộc thiểu số
Chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dân không chỉ tiêu dùng nội dung, mà có thể sở hữu và kiếm sống từ chính câu chuyện của mình.
Không chỉ hiện diện trong các chương trình bảo tồn hay hồ sơ di sản, nhờ chuyển đổi số, bản sắc văn hóa vùng đồng bào DTTS tự tin bước vào không gian số. Từ những video ngắn quay chợ phiên, điệu khèn, món ăn bản địa đến các phiên livestream du lịch cộng đồng, nhiều địa phương miền núi đang biến bản sắc văn hóa thành tài sản số, sinh kế số.
Nhưng cùng với cơ hội ấy là bài toán ngày càng nóng: Làm thế nào để bảo vệ quyền sở hữu đối với những giá trị văn hóa cộng đồng trên môi trường mạng?

Chuyển đổi số từ “lớp học livestream” giữa núi rừng
Ngày 30/4/2026, xã Lâm Bình (Tuyên Quang) chính thức khởi động Đề án “Làng sáng tạo nội dung số gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2026 - 2030”. Xã phấn đấu đến năm 2028, trên 60% hộ tham gia Đề án có ít nhất một hoạt động kinh tế số và được tiếp cận hạ tầng số cơ bản.
Để chinh phục mục tiêu này, những “lớp học Livestream” giữa núi rừng đã được mở. Trong đó, người trẻ học quay video, dựng Clip, Livestream; người lớn tuổi kể chuyện bản làng trước ống kính.
“Hướng đạo sinh” của lớp học là những nhà sáng tạo nội dung số (Tiktoker, Youtuber…) đã thành danh, xuất thân chính từ những thôn bản ở Lâm Bình. Với phương châm “cầm tay chỉ việc”, họ hướng dẫn bà con cách dùng trí tuệ nhân tạo để dựng phim, cách đặt tiêu đề, cách Livestream….
Mô hình sáng tạo nội dung số để phát triển kinh tế số ở Lâm Bình đang được nhân rộng trên địa bàn Tuyên Quang. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, tỷ lệ hộ gia đình, cá nhân tại các xã, phường của tỉnh làm kinh tế số đạt tối thiểu 5%; giai đoạn 2026 - 2030 mỗi năm đạt chỉ tiêu tăng thêm ít nhất 1% số hộ/xã.
(Công văn số 2617/UBND-KH&CN ngày 16/4/2026 về thúc đầy phát triển kinh tế số của UBND tỉnh Tuyên Quang)
Theo ông Tô Viết Hiệp - Bí thư Đảng ủy xã Lâm Bình, từ Đề án này, xã kỳ vọng mỗi người dân Lâm Bình sẽ trở thành một công dân số, trực tiếp kể câu chuyện về bản làng trên nền tảng số. Từ đó không chỉ bảo tồn bản sắc mà còn giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân bằng tài nguyên văn hóa.
Về lộ trình, ông Hiệp chia sẻ, Lâm Bình phấn đấu đến năm 2028 thu hút trên 3.000 lượt khách du lịch, thu nhập của các hộ tham gia sáng tạo nội dung số gắn với phát triển du lịch tăng tối thiểu 30% so với năm 2026.
Với một xã có điều kiện kinh tế - xã hội thuộc diện khó khăn nhất nhì tỉnh Tuyên Quang, mục tiêu “hút” khách du lịch từ chuyển đổi số có thể xem là cao. Nhưng nếu nhìn lại những kết quả đã có của Lâm Bình thì đây không phải là con số trên lý thuyết.

Năm 2025, theo báo cáo của UBND xã, tổng doanh thu từ các hoạt động sản xuất nội dung số trên địa bàn xã ước đạt trên 34,6 tỷ đồng, 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 46 tỷ đồng.
Toàn xã hiện có hơn 70 nhà sáng tạo nội dung số có thu nhập cao, đóng góp hơn 23% vào ngân sách xã từ thuế thu nhập cá nhân. Năm 2025, tiền thuế thu nhập cá nhân đóng góp vào ngân sách xã trên 1,5 tỷ đồng.
Từ “đối tượng bảo tồn” thành chủ thể sáng tạo số
Câu chuyện thúc đẩy sáng tạo nội dung số “đóng bản quyền” ở Lâm Bình có thể xem là dấu mốc trong nhận thức về sử dụng tài nguyên văn hóa của đồng bào DTTS vào mục đích thương mại trên không gian số.
Trong nhiều năm, văn hóa vùng cao thường xuất hiện trên truyền thông qua góc nhìn của người khác. Hình ảnh đồng bào DTTS trở thành “chất liệu văn hóa”, nhưng người dân lại ít có cơ hội tham gia vào chuỗi giá trị tạo ra lợi ích kinh tế từ chính bản sắc của mình.
Cách làm của Lâm Bình đang cho thấy một sự đột phá đầy triển vọng khi đặt trong tổng thể quy định về bảo vệ sở hữu trí tuệ. Mô hình này không đơn thuần là hoạt động quảng bá du lịch mà đang chạm tới một lớp sâu hơn của chuyển đổi số, đó là trao quyền kể chuyện lại cho người dân địa phương.
Đối với cá nhân sử dụng mạng xã hội, “Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường số” được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành tại Quyết định số 423/QĐ-BVHTTDL ngày 5/3/2026 yêu cầu tuân thủ, tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ các sản phẩm số trên môi trường số; không sử dụng từ ngữ, âm thanh, hình ảnh gây thù hận, kích động bạo lực, phân biệt về giới, về vùng miền, dân tộc, tôn giáo, văn hóa.
Trên không gian mạng, quyền kể chuyện cũng chính là quyền tạo ra giá trị. Một Video ngắn về chợ phiên vùng cao có thể thu hút hàng trăm nghìn lượt xem, một Clip hướng dẫn nhuộm vải thủ công có thể trở thành nội dung du lịch trải nghiệm… từ đó tạo ra giá trị kinh tế.
Thôn Khau Cau, xã Lâm Bình là ví dụ. Theo Trưởng thôn Đặng Tòn Sểnh, thôn có 129 hộ, có thời điểm gần 50 hộ tham gia sáng tạo nội dung số trên Youtube (hiện giảm còn 15 hộ). Nguồn thu từ sáng tạo nội dung số đã giúp 100% hộ tham gia sắm được máy giặt, tủ lạnh, tivi; 6 hộ xây được nhà mới khang trang, 6 hộ mua được xe ô tô cá nhân.

Từ thôn Khau Cau có thể thấy, chuyển đổi số đang từng bước đưa văn hóa thành tài sản số để phát triển kinh tế. Quan trọng hơn, người dân không còn đứng ở vị trí “đối tượng được bảo tồn”, mà từng bước trở thành chủ thể sáng tạo, khai thác và bảo vệ tài nguyên văn hóa của chính mình trên không gian số.
Đây cũng là chuyển động đáng chú ý trong tư duy phát triển vùng đồng bào DTTS và miền núi. Thay vì giữ gìn di sản theo cách thụ động, cộng đồng đang trực tiếp biến bản sắc thành sinh kế, đồng thời hình thành ý thức về bản quyền, quyền sở hữu và giá trị kinh tế của tài nguyên văn hóa trong thời đại số.
Lợi thế riêng và câu chuyện bản quyền
Mạng xã hội, với công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đang ngày càng bão hòa bởi những nội dung na ná nhau. Những sản phẩm số được sản xuất theo công thức, những hình ảnh chỉnh sửa quá mức hoặc những nội dung “Copy xu hướng” thiếu dấu ấn riêng.
Vì vậy, đời sống thật, văn hóa thật và con người thật trở thành nội dung khán giả tìm kiếm. Trong bối cảnh ấy, người dân vùng đồng bào DTTS và miền núi đang nắm giữ lợi thế riêng của nền kinh tế sáng tạo, đó là tính chân thực văn hóa.
Như chia sẻ của ông Trương Văn Quang - Chủ tịch UBND xã Lâm Bình: “Khán giả yêu quý người miền núi vì sự chân thật. Chúng tôi giữ gìn sự thật thà đó như giữ gìn sinh mệnh của mình”.
Ở chiều ngược lại, khi các giá trị văn hóa của đồng bào DTTS trở thành nội dung số có khả năng tạo ra doanh thu, thì câu chuyện bản quyền và sở hữu trí tuệ càng “nóng”. Từ nhiều năm nay, không ít tri thức bản địa bị khai thác gần như miễn phí vì chưa được số hóa, chưa được định danh và chưa có cơ chế bảo vệ phù hợp.
Khi bước vào môi trường số, nguy cơ “đánh cắp văn hóa” thậm chí có thể diễn ra nhanh hơn và ở quy mô lớn hơn. Điều đó đặt ra câu hỏi lớn: Làm thế nào sẽ bảo vệ quyền sở hữu đối với các giá trị văn hóa cộng đồng các DTTS trên không gian mạng?
Trở lại xã Lâm Bình của tỉnh Tuyên Quang để tìm câu trả lời. Trong Nghị quyết 56-NQ/ĐU ngày 9/4/2026, Ban Thường vụ Đảng ủy xã yêu cầu chậm nhất đến năm 2030 phải ban hành bộ quy tắc ứng xử và sáng tạo nội dung số xã Lâm Bình.
Theo Bí thư Đảng ủy xã Tô Viết Hiệp, đây sẽ là cẩm nang giúp người dân, nhà sáng tạo nội dung số biết rõ cái gì nên làm, cái gì không nên làm trong quá trình thực hiện sáng tạo nội dung số gắn với du lịch tại địa phương.
Việc “phòng ngừa” này là hoàn toàn cần thiết. Nếu không kịp định danh trên không gian mạng, nhiều giá trị văn hóa bản địa có thể tiếp tục bị khai thác mà cộng đồng sở hữu đứng ngoài chuỗi giá trị.
Từ Lâm Bình, bản chất của chuyển đổi số và mục tiêu “không bỏ ai lại phía sau” trong thời đại số được khai mở rõ ràng. Không chỉ là công nghệ, chuyển đổi số giúp con người giữ được tiếng nói riêng của mình trong một thế giới số ngày càng coi trọng giá trị sáng tạo nguyên bản.





