Giữ “hạt giống đỏ” của Đảng ở vùng cao xứ Nghệ:Phụ nữ-Nguồn cán bộ tại chỗ (Bài 3)
Khi nguồn phát triển đảng viên ở vùng đồng bào DTTS và miền núi, thường là lực lượng trẻ, nam giới tại chỗ ngày càng mỏng, thì việc mở rộng nguồn từ những phụ nữ dân tộc thiểu số đang bám bản để trở thành cán bộ cơ sở, là một trong giải pháp cần được chú trọng.
LTS: Sau sắp xếp đơn vị hành chính, sự thay đổi về không gian quản lý đã đặt công tác xây dựng tổ chức Đảng ở cơ sở trước những yêu cầu mới.
Từ những mô hình phát triển đảng viên ở miền núi Nghệ An cho thấy một yêu cầu xuyên suốt: Không chỉ bảo đảm số lượng đảng viên, mà phải xây dựng được nguồn kế cận đủ năng lực, có sự gắn bó với bản làng và từng bước trưởng thành để đảm nhận công việc ở cơ sở.
Báo VietNamNet trân trọng giới thiệu loạt bài “Giữ ‘hạt giống đỏ’ sau sắp xếp đơn vị hành chính”, ghi nhận những cách làm, những khó khăn và bài toán đặt ra trong công tác phát triển đảng viên ở miền núi Nghệ An hiện nay.

Từ một phụ nữ bám bản đến đảng viên trẻ
Trong 5 nữ đảng viên mới được kết nạp ở xã Nậm Cắn, có 3 người là lao động tự do, vừa sản xuất tại địa phương, vừa tham gia các tổ hội, đoàn thể. Trong đó, Kha Thị Phim, dân tộc Thái (SN 1989) và Kha Thị Hồng, dân tộc Thái (SN 2004), trước khi kết nạp Đảng đều là lao động tự do ở bản Piêng Hòm.
Trước đây, cả hai chưa thực sự hiểu hết ý nghĩa của việc phấn đấu vào Đảng. Những lần trò chuyện, chia sẻ với chị em trong bản về mục đích, lý do vào Đảng đã giúp Phim và Hồng thay đổi nhận thức.
Sau quá trình rèn luyện, chị Phim được kết nạp và tín nhiệm bầu làm Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ bản Piêng Hòm. Chị Hồng được bầu làm Chi hội phó.
Năm 2026, Nậm Cắn được giao chỉ tiêu kết nạp 12 đảng viên. Đến tháng 9, xã đã kết nạp 13 người; tất cả đều là người dân tộc thiểu số, trong đó có 5 nữ và 10 lao động tự do.
“Tôi rất tự hào khi được đứng dưới lá cờ Đảng để tuyên thệ. Tôi suy nghĩ, vào Đảng là để sống tốt hơn, không xâm canh, xâm cư, không vi phạm tệ nạn xã hội; muốn gia đình, bố mẹ, con cái thấy mình sống tích cực, đúng theo pháp luật”, chị Phim bộc bạch chia sẻ.
Trong nhóm nữ đảng viên mới, có những người vừa lao động sản xuất, vừa tham gia hoạt động hội, đoàn thể tại địa phương. Nhìn từ chuyện của các đang viên Phim và Hồng, cho thấy một hướng mở về tạo nguồn từ những nhân sự, trước đó không có vị trí nổi bật trong bộ máy.

Thông qua tuyên truyền, vận động và tham gia công việc hội, một phụ nữ có thể từng bước hiểu hơn về trách nhiệm với cộng đồng, từ đó tự nguyện phấn đấu vào Đảng.
Tại xã Lượng Minh, địa phương có 1.125 lao động đi làm ăn xa, trong đó tỷ lệ lao động trẻ khoảng 60%. Sau khi học xong THPT, trung cấp, cao đẳng, đại học, nhiều thanh niên lựa chọn đi làm tại các khu công nghiệp, ngoài tỉnh hoặc xuất khẩu lao động. Song bên cạnh đó, phụ nữ ở nhiều bản vẫn trực tiếp chăm lo gia đình, tham gia các tổ chức hội và duy trì mối quan hệ gần gũi với cộng đồng.
Tại bản Phục (xã Cam Phục), Bí thư Chi bộ Vi Thị Thế cho biết, Chi bộ đang theo dõi, bồi dưỡng ba quần chúng nữ là Lộc Thị Hồng, Lang Thị Mơ và Lương Thị Thương.
Các chị đã có gia đình, tham gia hoạt động tại thôn bản, làm Chi hội Nông dân, y tế thôn bản, thú y. Chị Lang Thị Mơ là hộ sản xuất kinh doanh giỏi. “Đây là những nhân tố, nòng cốt nguồn của tương lai”, bà Thế nói.
Những phụ nữ ấy không chỉ tham gia phong trào. Họ còn trực tiếp lao động, chăm lo gia đình và đảm nhận những công việc gắn với đời sống người dân. Qua đó, Chi bộ có điều kiện nhận diện những người có trách nhiệm, uy tín và khả năng tập hợp quần chúng.

Nhưng bám bản không đồng nghĩa tự nhiên có điều kiện tham gia công việc xã hội. Với phụ nữ, quá trình phấn đấu còn gắn với việc gia đình, chăm sóc con cái, kinh tế hộ và những quan niệm truyền thống về vai trò của người phụ nữ.
Vì thế, mở rộng nguồn từ phụ nữ không chỉ là vận động họ tham gia phong trào. Quan trọng hơn là tạo điều kiện để họ thực sự tham gia, được giao việc và được đánh giá qua công việc.
Từ đảng viên nữ đến nguồn cán bộ tại chỗ
Tại Na Loi, địa phương triển khai mô hình “Vận động giáo dục phát triển đảng viên nữ dân tộc thiểu số”.
Theo đó, đảng viên được phân công không chỉ hướng dẫn quần chúng hoàn thiện hồ sơ mà còn nắm bắt tâm tư, vận động tham gia phong trào, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và thực hiện nhiệm vụ tại địa phương. Hằng quý, chi bộ nhận xét, đánh giá quá trình phấn đấu.
Cách làm này giúp nguồn nữ được theo dõi liên tục thay vì chỉ xuất hiện khi chi bộ cần lập danh sách kết nạp.
Mô hình ở Na Loi tập trung vào quá trình thay vì chỉ hồ sơ. Người được phân công theo dõi nguồn phát triển đảng viên phải nắm cả tâm tư, mức độ tham gia phong trào, quá trình rèn luyện và việc thực hiện nhiệm vụ ở địa phương. Hằng quý, chi bộ nhận xét, đánh giá quá trình phấn đấu.
Ở nhiều bản vùng cao, phụ nữ là những người có quan hệ gần gũi với cộng đồng. Từ những công việc tưởng như nhỏ, tổ chức Đảng có thể nhận diện người có trách nhiệm, uy tín và khả năng tập hợp quần chúng.

Đó có thể là người vận động chị em phát triển kinh tế, đưa trẻ đến trường, giữ gìn vệ sinh bản làng, chấp hành pháp luật hoặc tham gia bảo đảm an ninh trật tự.
Qua công việc, năng lực từng người được bộc lộ. Điểm chuyển quan trọng nằm ở chỗ: không đợi một người đủ tiêu chuẩn rồi mới giao việc, mà thông qua việc được giao để phát hiện, rèn luyện và đánh giá.
Theo Ban Tổ chức Tỉnh ủy Nghệ An, thời gian tới, các địa phương, đơn vị, Chi bộ phải chú trọng các nhóm đối tượng là thanh niên, đồng bào dân tộc thiểu số, giáo viên, lực lượng dân quân, công an và Người có uy tín; đồng thời bố trí cán bộ trẻ, đặc biệt là phụ nữ vào các vị trí phù hợp ở bản làng để tạo môi trường rèn luyện.
Tại Môn Sơn, địa phương thực hiện Đề án phát triển đảng viên là học sinh, xây dựng mô hình “Chi bộ bốn tốt”, “Đảng bộ cơ sở bốn tốt” để tạo nguồn kế cận; trong đó nguồn đảng viên trẻ là nữ được quan tâm.
Một phụ nữ dân tộc thiểu số được phát hiện hôm nay chưa chắc trở thành cán bộ ngày mai. Nhưng nếu được giao việc, được hướng dẫn, được thử thách và được tin tưởng, họ có thêm cơ hội để trở thành người tập hợp chị em, vận động nhân dân, giải quyết việc bản.
Trong bối cảnh lớp trẻ ở địa phương rời quê ngày càng nhiều, mở rộng nguồn từ những phụ nữ đang bám bản không chỉ giải quyết bài toán trước mắt. Quan trọng hơn, đó là cách tạo thêm những người có khả năng gắn bó với cộng đồng, hiểu phong tục, tâm lý và có uy tín với người dân.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, không gian quản lý thay đổi, yêu cầu đối với đội ngũ ở cơ sở cũng thay đổi. Trong bài toán tìm lớp kế cận ấy, phụ nữ dân tộc thiểu số không còn chỉ là người tham gia phong trào. Họ có thể trở thành một phần của đội ngũ cán bộ tại chỗ.


