Hạ tầng giao thông vùng cao tỉnh Quảng Ninh được đầu tư đồng bộ, mở lối cho người dân phát triển sản xuất, từng bước ổn định sinh kế. Ảnh: Mỹ DungTừ hỗ trợ sang tự chủ sinh kế
Những ngày tháng 4/2026, tại thôn Đồng Cậm, xã Hoành Mô không khí thu hoạch hồi của bà con vùng cao khá nhộn nhịp khi xe thu mua vào tận nơi, sản phẩm được tiêu thụ ổn định. Chia sẻ với người dân, chúng tôi không còn phải nghe về những câu chuyện than thở của người dân về giá hồi thấp do việc đi lại thu mua hồi khó khăn; hay thiếu kinh nghiệm về khoa học kỹ thuật, thiếu vốn sản xuất như trước.
Sự thay đổi này bắt đầu từ việc thực hiện các chương trình, dự án, chính sách dân tộc. Đặc biệt là khoảng hơn 5 năm trở lại đây Nghị quyết 06-NQ/TU của Tỉnh ủy Quảng Ninh đã tạo làn gió mới, giúp thay đổi cách tổ chức sản xuất, tiếp cận thị trường và tư duy làm kinh tế của người dân.
Minh chứng như ở Đồng Cậm, từ nguồn lực chính sách đầu tư đồng bộ, đúng trọng tâm, trọng điểm trong lĩnh vực tạo sinh kế cho người dân, địa phương không dừng lại ở hỗ trợ đơn lẻ mà từng bước xây dựng các mô hình sản xuất gắn với thị trường. Người dân được hướng dẫn kỹ thuật, tiếp cận vốn, kết nối tiêu thụ, tham gia vào chuỗi giá trị thay vì sản xuất manh mún như trước.
Hay nhìn những đồi hồi xanh mướt đang kỳ thu hoạch của gia đình ông Triệu A Sình ở xã Bình Liêu, ít ai biết gia đình ông Triệu A Sình, từng có thời gian dài loay hoay với bài toán thoát nghèo. Nhớ lại giai đoạn đó, ông Sình chia sẻ, bước ngoặt chỉ đến khi chính quyền và cán bộ cơ sở trực tiếp "cầm tay chỉ việc", hướng dẫn gia đình chuyển đổi mô hình sản xuất. “Có cán bộ đi cùng, chúng tôi tự tin hẳn. Từ 2ha hồi, gia đình không chỉ đủ ăn mà còn có của ăn của để, không còn phải lo cái mặc, cái ăn như trước”, ông Sình cho hay.
Đúng như lời ông Lục Thành Chung, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Quảng Ninh bộc bạch, để có được những chuyển biến mạnh mẽ ở vùng cao tỉnh Quảng Ninh, sự vào cuộc sâu sát của đội ngũ cán bộ cơ sở đóng vai trò quan trọng.
"Những cán bộ cơ sở không chỉ tuyên truyền chính sách mà còn trực tiếp đồng hành cùng người dân trong từng khâu sản xuất, trực tiếp xuống từng hộ, hướng dẫn kỹ thuật, cùng người dân tính toán đầu ra sản phẩm, góp phần chuyển từ hỗ trợ sang tạo năng lực tự phát triển. Khi người dân hiểu và chủ động tham gia, chính sách mới thực sự phát huy hiệu quả", Giám đốc Sở nhấn mạnh.
Hướng tới sinh kế bền vững
Những năm gần đây, Quảng Ninh xác định, việc triển khai các chính sách dành cho vùng DTTS không dừng lại ở hỗ trợ trước mắt, mà phải chuyển dần sang tạo sinh kế bền vững, gắn với lợi thế từng địa phương. Như tại xã Ba Chẽ, những đồi quế, đồi gỗ lớn dần thay thế diện tích rừng nghèo trước đây.
Cán bộ xã Ba Chẽ đi thăm các hộ trồng quế trên địa bàn. Ảnh: Mỹ DungỞ các xã Kỳ Thượng, Tiên Yên... nhiều mô hình được tổ chức theo hướng liên kết: từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ. Đặc biệt, người dân được hỗ trợ kỹ thuật, tiếp cận vốn, kết nối thị trường, từ đó, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Bên cạnh đó, Nghị quyết 17-NQ/TU của Tỉnh ủy Quảng Ninh đã xác định rõ, việc đưa văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh cho phát triển, theo đó nhiều địa phương cũng từng bước khai thác hiệu quả giá trị văn hóa các DTTS để phát triển du lịch cộng đồng. Như Bình Liêu, Vân Đồn… đã xây dựng các sản phẩm du lịch gắn với bản sắc dân tộc, góp phần đa dạng sinh kế và nâng cao thu nhập cho người dân.
Với những giải pháp, kế hoạch phát triển đúng hướng đã mang lại hiệu quả rõ rệt về đời sống kinh tễ-xã hội ở vùng cao Quảng Ninh. Nổi bật là, các chỉ tiêu về thu nhập, giảm nghèo, phát triển sản xuất ở đồng bào DTTS đã chuyển biến rõ nét. Đến hết năm 2024, thu nhập bình quân khu vực này đạt 83,79 triệu đồng/người/năm, gấp gần 2 lần so với năm 2020. Tính đến hết năm 2025, tỉnh Quảng Ninh không còn hộ nghèo, hộ cận nghèo theo tiêu chí của Trung ương và tỉnh.
Những kết quả thực tiễn trên đã góp phần giúp Quảng Ninh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới tại 100% đơn vị cấp xã, tạo nền tảng vững chắc để hướng tới mục tiêu đến năm 2030, với 100% số xã vùng DTTS và miền núi của tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao.
Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Quảng Ninh Ân Thị Thìn cùng lãnh đạo xã Đường Hoa theo dõi phần thi vấn tóc – nét văn hóa đặc sắc của đồng bào vùng cao, đang được bảo tồn và phát huy gắn với phát triển du lịch cộng đồng. Ảnh: Mỹ DungTháo gỡ “điểm nghẽn” từ cơ sở
Qua tìm hiểu thực tế, dù đã đạt nhiều kết quả rõ nét, quá trình chuyển từ hỗ trợ sang phát triển nội lực ở một số địa phương vẫn gặp những “điểm nghẽn”, trong đó việc thay đổi nếp nghĩ, cách làm của người dân chưa thực sự đồng đều. Như ở xã Lục Hồn, nơi có trên 98% dân số là người DTTS, một số mô hình sản xuất vẫn mang tính nhỏ lẻ, manh mún. Không ít hộ dân còn e ngại rủi ro khi chuyển đổi mô hình, thậm chí còn trông chờ vào hỗ trợ của Nhà nước.
“Để người dân chuyển từ tập quán canh tác nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa cần thời gian thay đổi tư duy người dân và sự đồng hành sát sao hơn nữa của chính quyền cơ sở, đặc biệt là đội ngũ cán bộ cơ sở tiên phong trong việc đi trước, làm cùng với người dân”, ông Vi Văn Vượng, Chủ tịch UBND xã Lục Hồn cho biết.
Để các chính sách dân tộc phát huy hiệu quả bền vững, chị Vi Thị Tuyến, cán bộ Phòng Văn hóa - Xã hội xã Ba Chẽ cho rằng, cần tiếp tục có những giải pháp đồng bộ, dài hơi, trong đó chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo nghề và phát huy vai trò của Người có uy tín trong cộng đồng trong công tác tuyên truyền, vận động người dân hưởng ứng các phong trào thi đua ở cơ sở.
Đời sống tinh thần của người dân vùng cao tỉnh Quảng Ninh ngày càng được nâng lên rõ rệtVà một yếu tố quan trọng khác để có được những kết quả như ở những đồi hồi ở Đồng Cậm; hay sự thay đổi ở các thôn bản vùng cao không chỉ đến từ chính sách, mà từ cách cán bộ “cùng làm” với dân. Khi người dân đã chủ động làm chủ sinh kế, những chỉ tiêu về thoát nghèo, về nâng cao mức sống cho người dân không còn là mục tiêu mà được hiện thực và trở thành nền tảng cho phát triển lâu dài, bền vững trong đồng bào DTTS ở vùng cao Quảng Ninh.