Công tác Dân tộc

Làng nghề truyền thống vùng đồng bào DTTS: Vì sao "kho báu" chưa thành động lực phát triển?

Sỹ Hào 08/06/2026 19:06

Làng nghề truyền thống vùng đồng bào DTTS đang thưa dần lớp nghệ nhân có tay nghề lẫn tâm huyết, trong khi người trẻ rời bản tìm việc và sản phẩm truyền thống chưa tìm được chỗ đứng trên thị trường.

Câu chuyện bảo tồn làng nghề, không còn đơn thuần là gìn giữ một nghề truyền thống, mà đang trở thành bài toán bảo tồn văn hóa gắn với sinh kế bền vững.

Làng nghề truyền thống 6
Làng nghề miến dong Án Lại, tỉnh Cao Bằng sản xuất quanh năm, nhưng chính vụ là dịp cuối năm giáp Tết Nguyên đán - Ảnh: Chí Tín

Sau gần 8 năm thực hiện Nghị định 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn, hàng nghìn làng nghề trên cả nước được công nhận -trong đó có nhiều làng nghề truyền thống của đồng bào DTTS, hàng triệu lao động có thêm sinh kế.

Nhưng phía sau những con số tăng trưởng, vẫn còn khoảng trống lớn ở các vùng đồng bào DTTS - nơi lưu giữ nhiều nghề truyền thống nhất nhưng lại đang đối mặt nguy cơ mai một, thiếu thị trường và chậm tham gia vào các chuỗi giá trị hiện đại. Càng đi vào vùng đồng bào DTTS, khoảng trống phát triển làng nghề càng hiện rõ.

Số liệu trong báo cáo tổng kết Nghị định 52/2018/NĐ-CP của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, những vùng có đông đồng bào DTTS, lại đang là những khu vực có hệ sinh thái làng nghề yếu nhất, nguy cơ mai một nghề truyền thống cao nhất, khả năng tham gia chuỗi giá trị thấp nhất.

n
n

Giàu di sản, nghèo làng nghề mạnh

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hiện cả nước có 263 nghề truyền thống, 1.975 làng nghề được công nhận. Tổng doanh thu từ các hoạt động ngành nghề nông thôn hiện đạt 376.697 tỷ đồng.

Nhưng có một nghịch lý đang tồn tại trong bức tranh phát triển làng nghề Việt Nam. Những vùng sở hữu kho tàng nghề truyền thống phong phú, nhất lại không phải những nơi phát triển mạnh nhất về kinh tế làng nghề.

NGƯT Trịnh Quốc Đạt-Chủ tịch Hội Làng nghề Việt Nam
Nhà giáo Ưu tú Trịnh Quốc Đạt - Chủ tịch Hội Làng nghề Việt Nam: "Áp dụng tiêu chí linh hoạt hơn trong công nhận nghề và làng nghề truyền thống để tránh bỏ sót các nghề thủ công quý giá dù chỉ còn ít hộ duy trì”.

Trung du và miền núi phía Bắc là địa bàn nhiều thành phần dân tộc, bản sắc văn hóa phong phú, với các nghề dệt lanh, nhuộm chàm, đan lát, rèn truyền thống,… Nhưng toàn vùng mới chỉ có 498 làng nghề được công nhận (273 làng nghề và 225 nghề truyền thống).

Tây Nguyên - vùng đất hội tụ đa dạng văn hóa của các dân tộc tại chỗ và nhiều dân tộc anh em từ mọi miền, đã kiến tạo nên một không gian văn hóa đại ngàn đặc sắc và giàu bản sắc nhất cả nước. Nhưng nơi đây hiện chỉ có 22 làng nghề được công nhận.

Làng nghề là một trong những “mỏ vàng” để khai
thác, phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn".

(Ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn
– Bộ Nông nghiệp và Môi trường)

Đáng chú ý, Tây Nguyên không có làng nghề nào có sản phẩm OCOP đạt sao, không có làng nghề nào có sản phẩm xuất khẩu. Trong khi đó, Trung du và miền núi phía Bắc chỉ có 7 làng nghề có sản phẩm xuất khẩu.

Những con số ấy cho thấy, khoảng cách rất lớn giữa tiềm năng văn hóa và năng lực phát triển kinh tế của làng nghề vùng đồng bào DTTS.

Nghề truyền thống sống bằng ký ức nhiều hơn thị trường

Điều đáng lo ngại hiện nay là vùng nông thôn nước ta không phải là thiếu nghề. Ngược lại, nhiều nghề vẫn tồn tại, nhưng trong tình trạng cầm chừng.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cả nước hiện có 313/1.975 làng nghề hoạt động kém, cần chuyển đổi nghề; đặc biệt có 183 làng nghề có nguy cơ mai một.

Trong đó, trung du miền núi phía Bắc có 31 làng nghề, làng nghề truyền thống hoạt động kém hiệu quả, 29 làng nghề có nguy cơ mai một. Vùng Tây Nguyên, con số tương ứng là 8 và 5.

Thực trạng

Ở nhiều địa phương vùng DTTS, sản phẩm thủ công chủ yếu được bán dưới dạng quà lưu niệm, tiêu thụ nhỏ lẻ. Sản xuất vẫn mang tính hộ gia đình, thiếu liên kết chuỗi, thiếu thương hiệu và khó đáp ứng các tiêu chuẩn thị trường lớn.

Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, cả nước mới chỉ có khoảng 247 làng nghề có sản phẩm đăng ký thương hiệu, chiếm hơn 12% tổng số làng nghề được công nhận; chỉ khoảng 145 làng nghề có sản phẩm xuất khẩu.

Điều đó đồng nghĩa với việc phần lớn làng nghề vẫn đang đứng ngoài chuỗi giá trị hiện đại. Không ít nghề truyền thống vẫn được duy trì chủ yếu nhờ tâm huyết của nghệ nhân hơn là sức sống của thị trường.

Làng nghề truyền thống ra sao khi người trẻ rời nghề, nghệ nhân già đi?

Một nghề, làng nghề chỉ có thể tồn tại khi có người kế tục. Nhưng đây đang là điểm nghẽn lớn tại nhiều địa phương vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, lực lượng nghệ nhân người giữ vai trò then chốt trong truyền nghề đang ngày càng già hóa, trong khi thế hệ trẻ ít mặn mà với nghề vì điều kiện lao động vất vả, thu nhập chưa tương xứng, thiếu cơ hội phát triển nghề nghiệp.

“Hiện làng nghề Việt Nam đang đối mặt với 3 nút thắt lớn gồm môi trường, đổi mới sáng tạo và phát triển thị trường. Đây là những vấn đề vượt quá khả năng tự giải quyết của phần lớn nghệ nhân và cơ sở sản xuất”

(Ông Nguyễn Minh Tiến, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến thương mại Nông nghiệp – Bộ Nông nghiệp và Môi trường)

Để “vá lỗ hổng” về lực lượng kế cận, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn thời gian qua đã được chú trọng. Giai đoạn 2018 - 2025, các địa phương trên cả nước đã mở 450 lớp tập huấn, với trên 27 nghìn lượt người tham gia.

Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nghề truyền thống vẫn đối diện nguy cư mai một do việc trao truyền đang theo hình thức “cầm tay chỉ việc”, trong phạm vi hộ gia đình hoặc nhóm nhỏ, chưa có chương trình khung đào tạo được chuẩn hóa.

Cả nước hiện có 1.418 doanh nghiệp trong làng nghề, tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng (884 doanh nghiệp). Các vùng có đông đồng bào DTTS sinh sống có rất ít doanh nghiệp trong làng nghề: Trung du và miền núi phía Bắc 35 doanh nghiệp, Tây Nguyên 12 doanh nghiệp, đồng bằng sông Cởi Long 18 doanh nghiệp.

(Báo cáo tổng kết Nghị định 52/2018/NĐ-CP của Bộ Nông nghiệp và Môi trường - 2026)

Nhiều nghề đặc thù như sơn mài, gốm, điêu khắc, mộc mỹ nghệ... chưa được xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ năng và giáo trình phù hợp. Đội ngũ giảng viên giỏi nghề và am hiểu thực tiễn làng nghề, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào DTTS ngày càng ít.

Sự già hóa của đội ngũ nghệ nhân và khoảng trống lực lượng kế cận đang trở thành thách thức sống còn đối với nhiều làng nghề. Bởi giữ được nghề không chỉ là giữ sinh kế, mà còn là giữ ký ức văn hóa và bản sắc của mỗi cộng đồng.

Từ bảo tồn nghề sang phát triển sinh kế

Những hạn chế trong phát triển làng nghề của cả nước nói chung, của vùng đồng bào DTTS nói riêng đã được bộ Nông nghiệp và Môi trường nhân diện trong quá trình tổng kết Nghị định 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ.

Quá trình tổng kết cho thấy nhiều hạn chế như khó tiếp cận chính sách hỗ trợ, cơ chế dành cho nghệ nhân còn chưa tương xứng, việc phân loại và đánh giá làng nghề còn chồng chéo, gây khó khăn cho công tác quản lý và phát triển.

Dự thảo nghị định mới thay thế Nghị định 52/2018/NĐ-CP về phát triển làng nghề nông thôn đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng. Để hoàn thiện chính sách, Bộ cũng đã tổ chức nhiều hội thảo lấy ý kiến các bên liên quan.

Ba điểm nghẽn

Gần đây nhất (ngày 2/6/2026), tại hội thảo được tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh, bà Nguyễn Thị Hoàng Yến, Phó Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn, khẳng định mục tiêu của nghị định mới, không chỉ dừng lại ở bảo tồn nghề truyền thống mà còn tạo động lực để ngành nghề nông thôn phát triển theo chuỗi giá trị, nâng cao năng lực cạnh tranh và thích ứng với xu hướng phát triển bền vững trên thế giới.

Đây là định hướng hoàn toàn cần thiết. Bởi điều các làng nghề cần hiện nay, không chỉ là hỗ trợ bảo tồn mà là tạo ra giá trị kinh tế.

Đối với các làng nghề ở vùng đồng bào DTTS, nghề và làng nghề truyền thống cũng chính là bản sắc văn hóa. Nếu chỉ được bảo tồn trong các lễ hội, các dự án ngắn hạn hay những cuộc trưng bày mang tính biểu tượng, thì sự tồn tại của các nghề, làng nghề truyền thống của đồng bào sẽ rất mong manh.

Giữ nghề bằng ký ức là chưa đủ, điều quan trọng hơn, là giúp người dân sống được bằng nghề. Bởi chỉ khi nghề trở thành sinh kế bền vững, di sản mới thực sự được bảo tồn bằng chính sức sống của cộng đồng.

    Nổi bật

        Xem thêm

        Làng nghề truyền thống vùng đồng bào DTTS: Vì sao "kho báu" chưa thành động lực phát triển?
        • Mặc định