Công tác Dân tộc

Sửa đổi Nghị định 05/2011/NĐ-CP: Thiết kế khung quản trị tổng thể về công tác dân tộc

Lê Ngọc • 29/09/2026 13:04

Sau hơn 15 năm thực hiện, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP đã tạo khung pháp lý cho công tác dân tộc trên nhiều lĩnh vực.

Tuy nhiên, trước những thay đổi về pháp luật, tổ chức chính quyền và phương thức quản lý, yêu cầu hiện nay không chỉ là sửa đổi quy định, mà phải thiết kế một khung quản trị tổng thể, trong đó rõ cơ chế điều phối, trách nhiệm, nguồn lực và dữ liệu.

Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang đến thăm, chúc mừng Tết Chôl Chnăm Thmây quý chư tăng Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Vĩnh Long
Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Nguyễn Đình Khang đến thăm, chúc mừng Tết Chôl Chnăm Thmây quý chư tăng Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước tỉnh Vĩnh Long

Từ một nghị định đến hệ thống chính sách rộng lớn

Trước năm 2011, công tác dân tộc (CTDT) được triển khai chủ yếu trên cơ sở các quyết định của Thủ tướng Chính phủ, gắn với từng chính sách, chương trình và nhóm nhiệm vụ cụ thể. Việc thiếu một văn bản pháp lý ở tầm nghị định khiến các chính sách được triển khai theo từng mảng, chưa tạo thành một khuôn khổ pháp lý thống nhất và ổn định.

Trong bối cảnh đó, Nghị định số 05/2011/NÐ-CP ngày 14/1/2011 về CTDT (NÐ 05) là khung pháp lý cao nhất định hình hệ thống chính sách dân tộc (CSDT) đồng bộ. Qua hơn 15 năm, các chính sách được triển khai trên nhiều lĩnh vực, từ đầu tư phát triển, giảm nghèo, giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin - truyền thông đến đào tạo, sử dụng cán bộ và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Tính đến thời điểm Quốc hội khóa XIII thông qua Nghị quyết 88/2019/QH14 phê duyệt Ðề án Tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, theo tổng hợp của Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo), có 118 chính sách trực tiếp hoặc gián tiếp triển khai ở địa bàn này. Sau đó, phần lớn các chính sách được tích hợp vào Ðề án Tổng thể, giai đoạn 2021-2025 được triển khai theo Chương trình MTQG 1719.

NÐ 05 trở thành kim chỉ nam trong quá trình tổ chức thực hiện CSDT, nhất là ở khâu bố trí nguồn lực. Chỉ tính giai đoạn 2021 - 2025, theo báo cáo tổng kết NÐ 05 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, vốn dự toán Chương trình MTQG 1719 đã giao cho các bộ, ngành, địa phương khoảng 89.731,414 tỷ đồng; tổng doanh số cho vay tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng CSXH đạt trên 1,2 triệu tỷ đồng…

Ðây chính là “nhiên liệu” để vận hành các chương trình, dự án đầu tư, hỗ trợ, từ đó thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình giảm nghèo nhanh, bền vững vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Giai đoạn 2021 - 2025, tỷ lệ hộ nghèo người DTTS bình quân giảm 4,45%/năm; một số địa phương có tỷ lệ nghèo người DTTS giảm sâu như: Ðiện Biên bình quân 5,41%/năm; Nghệ An bình quân 3,81%/năm; Quảng Ninh không còn hộ nghèo, cận nghèo người DTTS; Hà Nội không còn hộ nghèo DTTS.

“

Bộ Dân tộc và Tôn giáo đang lấy ý kiến Nhân dân đối với dự thảo Nghị định về CTDT thay thế NĐ 05. Một trong những đề xuất đáng chú ý là dự thảo Nghị định không quy định CSDT mà thiết kế 11 nhóm biện pháp tổ chức thực hiện CSDT.

Bối cảnh mới đòi hỏi cách tổ chức thực hiện mới

Những kết quả đó khẳng định vai trò của NÐ 05 trong việc hình thành và tổ chức thực hiện CSDT trong một giai đoạn dài. Tuy nhiên, qua tổng kết NÐ 05, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đánh giá, một số quy định đã bộc lộ bất cập cần được sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ để thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành và yêu cầu quản lý nhà nước về CTDT.

Theo Bộ Dân tộc và Tôn giáo, NÐ 05 mới chủ yếu quy định khung pháp lý và định hướng tổng quát, chưa hình thành một khung quản trị tổng thể. Vì vậy, trách nhiệm giữa cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp trong một số nội dung chưa được phân định rõ, chưa gắn trách nhiệm được giao với kết quả thực hiện; cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin, dữ liệu và điều phối liên ngành chưa có tính bắt buộc.

Ðặc biệt, một số nội dung của NÐ 05 có sự giao thoa với pháp luật chuyên ngành, nhiều chính sách được triển khai ở các chương trình khác nhau nhưng chưa có cơ chế tích hợp đầy đủ. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cần xác định rõ hơn chính sách nào thuộc phạm vi điều chỉnh của nghị định, chính sách nào đã được điều chỉnh bằng luật chuyên ngành, cơ quan nào chủ trì và trách nhiệm phối hợp...

Thực tiễn đó đòi hỏi sửa đổi NÐ 05 để tiếp tục thể chế hóa chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước, đồng thời xử lý những nội dung không còn phù hợp và những vấn đề mới phát sinh. Một yêu cầu được đặt ra là xây dựng cơ chế điều phối liên ngành có tính bắt buộc; xác định rõ cơ chế phân bổ, lồng ghép nguồn lực; làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan Trung ương và địa phương; đồng thời bổ sung quy định về chuyển đổi số, cơ sở dữ liệu và chia sẻ dữ liệu về đồng bào DTTS.

Sau hơn 15 năm, việc tổng kết NÐ 05 vì vậy không chỉ đặt ra yêu cầu cập nhật một văn bản đã ban hành từ năm 2011. Những thay đổi về pháp luật, tổ chức chính quyền, chuyển đổi số đang đặt ra một khuôn khổ mới cho CTDT, là cơ sở để các CSDT trong giai đoạn mới được tổ chức thực hiện thống nhất, phù hợp với thực tiễn và hướng tới phát triển bền vững vùng đồng bào DTTS và miền núi.

    Sửa đổi Nghị định 05/2011/NĐ-CP: Thiết kế khung quản trị tổng thể về công tác dân tộc
    • Mặc định