Analytic
Thứ Sáu, ngày 23 tháng 08 năm 2019, 09:25:27
  •  

Đôi nhẫn bạc trong nghi lễ đời người

Uông Thái Biểu - 16:10, 14/02/2021

Đối với những cô gái, chàng trai trẻ dân tộc Chu Ru sinh sống trong các plêi (làng) dọc triền thung lũng phì nhiêu bên dòng Đa Nhim, khi được sở hữu chiếc nhẫn bạc, họ coi đó không chỉ là đồ trang sức, là của hồi môn quý giá mà còn là một tín vật thiêng liêng trong hôn ước của ngày đôi lứa nên duyên cầm sắt. Khi trai gái trao nhau chiếc nhẫn srí, sră được chạm khắc tinh vi bằng bạc, không bao giờ họ nghĩ đến một ngày chia xa…

Những chiếc nhẫn trống - mái của người Chu Ru.
Những chiếc nhẫn trống - mái của người Chu Ru.

Nếu ở miền duyên hải, đồng bào Chăm nổi tiếng với nghề làm gốm, trên cao nguyên có người Mạ, Cơ Ho, Ê Đê, Ba Na khéo tay với nghề dệt thổ cẩm, thì những tiền nhân người Chu Ru đã truyền lại cho con cháu của họ nghề kim hoàn bằng nguyên liệu bạc. Chuyện về những chiếc nhẫn srí, sra là một trong những ấn tượng của nghề đúc bạc Chu Ru. Để có được một cặp nhẫn cưới, người nghệ nhân phải thực hiện nhiều thao tác, nhiều cung đoạn tỉ mẩn mà không phải ai cũng có thể làm được. Trong cả hàng chục ngàn người dân Chu Ru hiện nay, chỉ còn lại duy nhất một nghệ nhân chế tác nhẫn cưới, đó là anh Ya Tuất ở plêi (làng) Ma Đanh, xã Tu Tra, huyện Đơn Dương (Lâm Đồng).

Với sự hướng dẫn của nghệ nhân Ya Tuất, chúng tôi tham gia vào một cuộc tìm hiểu “công nghệ” đúc nhẫn. Thứ nguyên liệu chính để tạo khuôn đúc là loại sáp ong tốt. Người nghệ nhân dùng sáp ong nấu chảy và lấy dùi gỗ nhúng vào sáp nóng, sau đó để nguội sẽ cho ra một ống sáp tròn như hình bánh cuốn. Tùy theo kích thước của ngón tay, nghệ nhân sẽ cắt thành những chiếc khoen tròn lớn, nhỏ để tạo khuôn. Phần hoa văn trên nhẫn được cán thành những sợi nhỏ như sợi chỉ khâu rất mảnh, cứ ba sợi sáp bện chân rếp thành một viền hoa văn. Cuống nhẫn được làm bằng sáp như đầu chiếc đũa con, dài khoảng 2cm. Lấy lá dứa làm thành chiếc phễu cuốn lấy cuống nhẫn, bên trên cắm que tre để giữ khuôn. Mỗi khuôn bao giờ cũng đúc một lần hai chiếc nhẫn, một chiếc nhẫn mái và một chiếc nhẫn trống. Sau khi tạo dáng xong, người nghệ nhân mang nhẫn sáp nhúng đều vào dung dịch phân trâu hòa lẫn với đất, sau đó đưa đi phơi nắng chừng nửa ngày đến cả ngày cho khô hoàn toàn. Tiếp theo, khuôn sáp ấy sẽ được mang đốt trên than lửa, sáp bên trong sẽ nóng chảy, phần dung dịch phân trâu còn lại sẽ tạo thành một khuôn âm bản. Sau đó, mang bạc nấu chảy đổ vào khuôn. Lúc khuôn nguội, một đôi nhẫn bạc màu đen xin xỉn sẽ hiện ra. Mang cặp nhẫn ấy bỏ vào nồi bồ kết rừng đang đun sôi để nấu thêm vài phút thì tự nhiên cặp nhẫn đã lên màu sáng bóng lấp lánh…

Nghệ nhân Ya Tuất và vợ với cặp nhẫn uyên ương.
Nghệ nhân Ya Tuất và vợ với cặp nhẫn uyên ương.

Trong ngôn ngữ của dân tộc Chu Ru ở Nam Tây Nguyên, từ “srí” (nhẫn mái) có nghĩa là chiếc nhẫn dành cho nữ giới và sră là chiếc nhẫn dành cho nam giới (nhẫn trống). Có những điều thật lạ lùng và rất khó lý giải xung quanh chuyện những chiếc srí, sră. Ya Tuất nói đôi điều về bí quyết đúc nhẫn: Khi tạo khuôn, người nghệ nhân mang sáp ong nhúng vào dung dịch phân trâu, nhưng phải là phân trâu đực ba tuổi trộn với đất, cũng là loại đất lấy từ một nơi bí mật trong rừng mà chỉ có người làm nhẫn mới biết, từ đó sẽ cho ra một hỗn hợp không cháy trong độ nóng làm chảy bạc. Củi đốt là một loại cây rừng có tên kasiu, nếu đốt bằng các loại củi khác thì nhẫn sẽ bị nứt, gãy. Trước khi đúc nhẫn, đêm đó người nghệ nhân phải cách ly hoàn toàn với vợ; bốn giờ sáng bắt đầu nấu bạc, đúc nhẫn và tới tám giờ thì phải hoàn thành công đoạn cuối cùng.

Nếu như nghề làm gốm, nghề thổ cẩm có thể nhiều người học và làm được, thì đối với nghề đúc bạc làm nhẫn, chỉ có người Chu Ru biết làm và trong cộng đồng Chu Ru chỉ còn lại duy nhất nghệ nhân Ya Tuất. Ma Wêl, vợ Ya Tuất kể rằng: “Nó (tức Ya Tuất - ngôi thứ hai, theo cách gọi của đồng bào) học được cái nghề này là do bố mẹ bắt học. Cùng học có nhiều người nhưng chỉ có nó được ông cậu là nghệ nhân Ya Grang thực sự truyền nghề cho. Lúc đã học thành nghề rồi nhưng về làm mãi mà cũng không được. Mãi tới khi ông cậu tặng cho bộ đồ nghề và ông qua đời rồi nó mới làm được”.

Ya Tuất thừa nhận: “Học nghề này rất khó. Con mắt phải tinh, cái đầu phải sáng và cái tay phải lanh thì mới làm được”. Ông Ya Tiêng, cha của Ya Tuất nói thêm: “Nghề làm nhẫn bạc tuy không phải là nghề làm ra nhiều tiền nhưng nó là cái nghề truyền thống của người Chu Ru mình. Không thể bỏ nghề của ông bà được…”. Cũng bởi vì trai gái của dân tộc này vẫn coi chiếc nhẫn bạc là vật trang sức ưa thích nhất và trong lễ cầu hôn, những chiếc srí, sră vẫn là tín vật mang ý nghĩa thiêng liêng…

Đám cưới được coi là một trong những nghi lễ đời người quan trọng nhất của người Chu Ru. Theo chế độ mẫu hệ, con cái trong dân tộc này theo họ mẹ và hôn nhân là do phái nữ chủ động trước. Khi đến tuổi trưởng thành, các cô gái thường chọn cho mình một “ý trung nhân”, tự đi đặt nhẫn trước khi bắt chồng. Hôn nhân được đánh dấu bằng việc cô gái và gia đình chọn một ngày tốt lành sang nhà trai “chạm ngõ”. Thường thì cô gái không xuất hiện ngay mà tạm lánh vào nhà người quen gần nhà chàng trai nhất. Sau khi cha mẹ, người cậu bên nhà gái trình bày nguyện vọng muốn kết duyên của cô gái đối với chàng trai, nếu anh ta đồng ý thì sẽ có mặt để tiến hành nghi lễ đeo nhẫn. Khi trao nhẫn cho nhau, nữ trao cho nam trước, nam trao cho nữ sau. Gia đình nhà trai sẽ mang rượu uống với gia đình bên gái ngay sau khi lễ đeo nhẫn kết thúc. Lễ cưới của đôi trai gái Chu Ru là dịp vui của cả cộng đồng. Ngay sau lễ cưới, đôi vợ chồng trẻ về ra mắt nhà trai, họ có thể lưu lại vài ngày và sau đó người con trai khăn gói về ở hẳn bên gia đình nhà vợ.

Hôn nhân thủy chung một vợ, một chồng được người Chu Ru đặc biệt coi trọng. Ly hôn được xem là một tội trọng khi srí, sra đã lồng ngón tay nhau…/.

Ý kiến độc giả
Mã bảo mật
Vùng biên Lai Châu rộn rã ngày hội Biên phòng

Vùng biên Lai Châu rộn rã ngày hội Biên phòng

Tin tức - Minh Anh - 11 phút trước
Ngày 26/2, Đồn Biên phòng Thu Lũm và Đồn Biên phòng Ka Lăng (Bộ đội Biên phòng tỉnh Lai Châu) phối hợp cùng cấp ủy đảng, chính quyền xã Thu Lũm tổ chức “Ngày hội Biên phòng toàn dân” năm 2026.
Quảng Trị chi trả hơn 347 tỷ đồng từ chuyển nhượng tín chỉ carbon rừng

Quảng Trị chi trả hơn 347 tỷ đồng từ chuyển nhượng tín chỉ carbon rừng

Kinh tế - Phạm Tiến - 25 phút trước
Thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị cho biết, Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh đã chi trả hơn 347 tỷ đồng từ chuyển nhượng tín chỉ carbon cho chủ rừng.
Thanh Hóa: Tổ chức điểm “Ngày hội Biên phòng toàn dân” tại xã vùng cao

Thanh Hóa: Tổ chức điểm “Ngày hội Biên phòng toàn dân” tại xã vùng cao

Tin tức - Quỳnh Trâm - 27 phút trước
Ngày 26/2, xã Hiền Kiệt, tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Đồn Biên phòng Hiền Kiệt, Bộ đội Biên phòng Thanh Hóa tổ chức “Ngày hội Biên phòng toàn dân” năm 2026. Đây là địa bàn được chọn làm điểm của tỉnh Thanh Hóa.
Quảng Ngãi: Thực hiện nhiều mô hình sinh kế cho đồng bào DTTS ngay từ đầu năm

Quảng Ngãi: Thực hiện nhiều mô hình sinh kế cho đồng bào DTTS ngay từ đầu năm

Kinh tế - Ngọc Chí - 1 giờ trước
96 xã, phường, đặc khu trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đồng loạt tổ chức Lễ ra quân lao động, sản xuất đầu năm 2026 vào hôm nay, 26/2. Trong đó, nhiều xã vùng đồng bào DTTS đã triển khai nhiều chương trình, mô hình hỗ trợ sinh kế thiết thực, phù hợp với điều kiện sản xuất của đồng bào DTTS.
Miễn 100% vé tham quan hội Xuân Yên Tử trong 3 năm liền

Miễn 100% vé tham quan hội Xuân Yên Tử trong 3 năm liền

Tin tức - Mỹ Dung - 1 giờ trước
Sáng 26/2, tại Cung Trúc Lâm, phường Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh, Lễ khai hội Xuân Yên Tử 2026 chính thức được tổ chức. Điểm nhấn mùa hội năm nay là chính sách miễn 100% vé tham quan Yên Tử trong 3 năm (2026- 2028).
Rực rỡ đường cờ Tổ quốc nơi biên cương

Rực rỡ đường cờ Tổ quốc nơi biên cương

Những ngày Tết, đồng bào DTTS Gia Lai đang lan tỏa tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc và niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng bằng những đường cờ Tổ quốc rực rỡ khắp biên cương.
Những bài thuốc phổ biến từ cây trường sinh thảo

Những bài thuốc phổ biến từ cây trường sinh thảo

Vườn thuốc quanh ta - Như Ý - 2 giờ trước
Cây trường sinh thảo hay còn có tên gọi khác là hồi sinh thảo, quyển bá, vạn niên tùng... có vị cay và tính bình. Cây trường sinh thảo thường được dùng phổ biến trong chữa các chứng chảy máu hay các bệnh viêm gan cấp tính, vàng mắt, vàng da…Sau đây là một số bài thuốc phổ biến từ cây trường sinh thảo mời các bạn tham khảo.
Vợ chồng bác sĩ người Ba Na

Vợ chồng bác sĩ người Ba Na "gieo mầm" yêu thương cho buôn làng

Xã hội - Hòa Bình - 2 giờ trước
Hơn 30 năm qua, vợ chồng bác sĩ Nay Blum - H’Nơn ở làng Tươl Ktu, xã Đak Đoa, tỉnh Gia Lai đã dành gần trọn tâm sức để cứu người và gieo mầm yêu thương trong cộng đồng. Đồng bào Ba Na ở Đak Đoa luôn nhắc đến vợ chồng bác sĩ với tấm lòng biết ơn và yêu mến.
Lễ hội Đền Hét: Hào khí và nét đẹp văn hóa truyền thống

Lễ hội Đền Hét: Hào khí và nét đẹp văn hóa truyền thống

Sắc màu 54 - Vàng Ni – Phạm Đối - 2 giờ trước
Lễ hội Đền Hét năm nay diễn ra trong 3 ngày (từ ngày mồng 7 - 9 tháng Giêng), là dịp để tri ân các bậc tiền nhân quân tử và cầu mong một năm mới bình an, hạnh phúc.
Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031

Kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031

Thời sự - PV - 2 giờ trước
Bộ Chính trị, Ban Bí thư vừa ban hành Kết luận số 03-KL/TW ngày 23/2/2026 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 46-CT/TW của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.
Đồng bào DTTS làm du lịch theo cách rất riêng của mình

Đồng bào DTTS làm du lịch theo cách rất riêng của mình

Du lịch - Minh Nhật - 2 giờ trước
Ở những bản làng vùng cao người dân đang làm du lịch theo cách rất riêng của mình. Họ không rời ruộng nương, không gác lại công việc quen thuộc, mà mang chính nhịp sống thường ngày, câu chuyện mưu sinh và văn hóa bản địa giới thiệu với du khách. Với họ, du lịch không phải nghề mới, mà là cách kể lại đời sống của mình bằng một ngôn ngữ khác, vừa gần gũi, vừa cởi mở.