Bảo vệ môi trường vùng DTTS: Cần tăng nguồn lực hậu kiểm
Giảm tiền kiểm phải đi đôi với bảo đảm năng lực giám sát, xử lý ô nhiễm tại cơ sở. Đây là vấn đề đại biểu Lò Thị Luyến (Đoàn ĐBQH tỉnh Điện Biên) đặt ra từ thực tiễn miền núi, có ý nghĩa thiết thực đối với bảo vệ môi trường sống của đồng bào DTTS.

Tăng nguồn lực hậu kiểm môi trường tại miền núi
Sáng 24/10, tại Kỳ họp thứ Hai, Quốc hội khóa XVI, góp ý dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, đại biểu Lò Thị Luyến đề nghị chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm chỉ hiệu quả khi cơ quan quản lý đủ điều kiện kiểm tra, quan trắc, lấy mẫu và xử lý vi phạm.
Theo đại biểu, tại miền núi, địa bàn rộng, địa hình chia cắt, cơ sở sản xuất phân tán khiến việc tiếp cận hiện trường mất nhiều thời gian. Trong khi đó, hành vi gây ô nhiễm có thể diễn ra rất nhanh, như xả thải ban đêm, xả theo đợt, hoặc đốt chất thải.
Thiếu thiết bị đo nhanh, phương tiện lấy mẫu lưu động và dữ liệu quan trắc, cơ quan chức năng khó thu thập chứng cứ, xác định nguồn gây ô nhiễm. Với đồng bào DTTS, yêu cầu giám sát hiệu quả càng cần thiết để bảo vệ nguồn nước, đất sản xuất và môi trường sinh sống.
Đại biểu đề nghị giảm tiền kiểm phải gắn với tăng nhân lực, kinh phí, thiết bị và cơ sở dữ liệu phục vụ kiểm chứng. Phân cấp cho cơ sở cũng cần đi cùng cán bộ chuyên môn, hướng dẫn nghiệp vụ, tránh giao thêm nhiệm vụ nhưng thiếu điều kiện thực hiện.
Đồng thời, cần thống nhất quy định về thẩm quyền thẩm định đánh giá tác động môi trường. Dự thảo luật sử dụng cụm từ “người có thẩm quyền”, còn dự thảo nghị định quy định “cơ quan, đơn vị có thẩm quyền”, có thể gây khó khăn khi triển khai.
Làm rõ lợi ích từ tín chỉ carbon cho người giữ rừng
Đại biểu đánh giá việc chuyển trọng tâm từ giảm nhẹ phát thải khí nhà kính sang quản lý phát thải là phù hợp. Tuy nhiên, cần phương pháp kiểm kê thống nhất, dữ liệu đáng tin cậy và hỗ trợ kỹ thuật.
Nhiều tỉnh miền núi có lợi thế về rừng nhưng thiếu kinh phí, nhân lực kiểm kê, đánh giá trữ lượng. Địa phương vì thế khó xác định lượng tín chỉ có thể tạo ra và tiếp cận thị trường. Chi phí đo đạc, thẩm định cao cũng là rào cản.
Đại biểu đề nghị sớm hướng dẫn về quản lý phát thải, thị trường carbon, trao đổi quốc tế tín chỉ Carbon; thống nhất tiêu chuẩn, xây dựng hệ thống đăng ký, kiểm chứng dữ liệu. Đặc biệt, cần xác định rõ chủ thể có quyền bán và cơ chế chia sẻ lợi ích. Đây là vấn đề có ý nghĩa đối với đồng bào DTTS tham gia bảo vệ rừng.
Đại biểu cũng kiến nghị hỗ trợ chi phí đo đạc, thẩm định cho dự án nhỏ; công khai giá giao dịch và kiểm soát chuyển nhượng tín chỉ ra nước ngoài, bảo đảm mục tiêu giảm phát thải quốc gia.


