Mộc Châu (Sơn La) người dân phát triển du lịch gắn với nông nghiệp và văn hóa bản địa, tạo ra sinh kế bền vững. Ảnh: ITNKhai thác du lịch từ văn hóa bản địa
Nhắc đến Sơn La, người ta thường hình dung về những bản làng vùng cao nguyên sơ, những sườn đồi hoa trái rực rỡ và không gian văn hóa đậm đà bản sắc của đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Không chỉ sở hữu tiềm năng thiên nhiên phong phú, những năm gần đây địa phương này còn ghi dấu ấn bằng cách phát triển du lịch gắn với nông nghiệp và văn hóa bản địa, mở ra sinh kế mới cho người dân vùng cao.
Tại Hang Táu, còn được biết đến như “làng nguyên thủy” ở phường Mộc Châu nơi từng nổi tiếng với “ba không”: Không điện lưới, không sóng điện thoại, không wifi, cuộc sống đang chuyển mình theo cách riêng. Ngôi làng với 21 hộ dân sinh sống giờ trở thành điểm đến trải nghiệm thu hút du khách bởi vẻ mộc mạc và chân thật. Gia đình chị Phạm Thị Trá trước đây chỉ gắn bó với nương rẫy, nay đã tận dụng chính căn bếp củi của mình làm điểm dừng chân cho khách tham quan. Thu nhập được cải thiện, nhưng điều chị trân quý hơn là giá trị văn hóa của bản làng được du khách ghi nhận và tôn trọng.
Không chỉ riêng Hang Táu, nhiều mô hình tương tự đang xuất hiện tại Mộc Châu. Từ những triền dốc đá cằn cỗi, anh Nguyễn Văn Bình mạnh dạn chuyển hướng trồng mận, hồng, cam kết hợp cải tạo cảnh quan, mở lối tham quan.
Theo thời gian, khu nương rẫy trước kia chỉ phục vụ sản xuất nay trở thành điểm check-in mùa hoa, mùa quả, thu hút hàng trăm lượt khách mỗi ngày.
Anh Nguyễn Văn Bình, chủ vườn cam vườn hồng Thanh Bình cho biết: “Khi chuyển đổi sang mô hình du lịch, tôi đã tự học quay dựng, làm truyền thông để quảng bá hình ảnh, qua đó mở rộng khả năng tiếp cận thị trường”.
Thực tế cho thấy, sức hấp dẫn của du lịch trải nghiệm tại Sơn La không phải ngẫu nhiên hình thành, mà bắt nguồn từ quá trình chuyển dịch nhận thức của người nông dân. Từ sản xuất đơn thuần, họ từng bước kết hợp dịch vụ du lịch, khai thác cảnh quan và giá trị văn hóa sẵn có.
Song song với đó, chính quyền địa phương định hướng phát triển rõ ràng, khuyến khích các mô hình du lịch nông nghiệp gắn với cây trồng bản địa, xây dựng tư duy phát triển bền vững. Theo lãnh đạo địa phương, công tác nghiên cứu đầu tư hạ tầng và xây dựng sản phẩm trải nghiệm văn hóa các dân tộc Thái, Mông, Dao đang được triển khai nhằm tạo nền tảng cho phát triển lâu dài.
Sự chuyển mình của người nông dân Sơn La từ sản xuất nông nghiệp sang làm du lịch không chỉ phản ánh sức sống nội sinh của vùng đất Tây Bắc, mà còn là minh chứng cho cách tiếp cận phát triển dựa trên bản sắc và tài nguyên địa phương. Đó là hành trình âm thầm nhưng bền bỉ, góp phần tạo nên diện mạo mới cho nông thôn miền núi trong tiến trình phát triển chung của đất nước.
Di sản trở thành sản phẩm du lịch đặc sắc
Dinh thự họ Vương (Tuyên Quang), công trình kiến trúc độc đáo thu hút hàng trăm nghìn lượt khách tới thăm mỗi năm. ITNĐiểm then chốt trong cách tiếp cận của các tỉnh vùng DTTS đã xác định, cộng đồng là chủ thể của di sản và cũng là trung tâm của quá trình phát triển du lịch. Thông qua mô hình du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn kiến trúc và văn hóa bản địa, di sản đã được “đánh thức” để tạo sinh kế cho người dân: Làm homestay trong nhà sàn truyền thống, tổ chức trải nghiệm lễ hội, trình diễn nghệ thuật dân gian, sản xuất và bán sản phẩm thủ công, ẩm thực bản địa.
Tuyên Quang đang dần khẳng định vị thế của mình như một điểm đến giàu bản sắc văn hóa, nơi di sản không chỉ được gìn giữ trong ký ức mà đang hiện hữu sống động trong đời sống cộng đồng. Điều làm nên sức hút khác biệt của vùng đất này, chính là hệ thống di sản văn hóa đa dạng của các DTTS từ kiến trúc truyền thống đến kho tàng văn hóa phi vật thể đang được đánh thức để trở thành nguồn lực phát triển du lịch, góp phần cải thiện sinh kế, xóa đói giảm nghèo một cách bền vững.
Lần đầu đến với Tuyên Quang, chị Hương (Hà Nội) thực sự choáng ngợp trước thiên nhiên hùng vỹ và đặc biệt ấn tượng với những công trình kiến trúc truyền thống nơi đây. “Tôi đã đến thăm phố cổ Đồng Văn; Dinh thự họ Vương... Những công trình kiến trúc này rất độc đáo, mang trong mình bản sắc văn hóa, tinh thần và quan niệm sống của người bản địa. Đó chính là điều khiến tôi muốn quay trở lại đây một lần nữa để khám phá kỹ hơn”, chị Hương chia sẻ.
Nhiều du khách đều muốn quay lại Tuyên Quang nhiều lần bởi sức hấp dẫn của di sản văn hóa bản địa đặc sắc, đa dạng. Thực tế, Tuyên Quang là nơi cư trú lâu đời của nhiều DTTS như Mông, Dao, Lô Lô, Pu Péo, Tày, Nùng…. Qua hàng trăm năm lịch sử, mỗi cộng đồng đã kiến tạo cho mình một không gian văn hóa riêng, phản ánh sinh động mối quan hệ hài hòa giữa con người với thiên nhiên, giữa đời sống vật chất và tinh thần.
Anh Lý Tả Quân, chủ một homestay ở thôn Nặm Đăm, xã Quản Bạ chia sẻ: “Chúng tôi chỉ sử dụng vật liệu gỗ, đất, đá để làm nhà trình tường theo truyền thống ông cha để lại. Đây cũng là cách để chúng tôi giữ gìn bản sắc văn hóa và thu hút khách du lịch”.
Các homestay nổi bật trong cách thiết kế, giữ lại được nét đẹp truyền thống xưa của người dân tộc Dao (Tuyên Quang). Ảnh: ITNViệc phát triển du lịch cộng đồng đã mang lại sự đổi thay tích cực ở Nặm Đăm. Bà con ý thức hơn về việc gìn giữ bản sắc văn hóa để phát triển du lịch, kinh tế hộ gia đình nhờ du lịch được nâng lên. “So với làm ruộng thì làm du lịch cộng đồng mang lại thu nhập tốt hơn nhiều. Từ ngày làm du lịch, thôn chúng tôi như được thay da, đổi thịt, nhà cửa khang trang, hộ nghèo giảm đi nhanh chóng”, anh Quân cho biết.
Hiện nay, toàn tỉnh Tuyên Quang có 54 làng văn hóa, du lịch cộng đồng. Nhiều mô hình đã được quốc tế ghi nhận, tiêu biểu như thôn Nặm Đăm đạt Giải thưởng Du lịch Cộng đồng ASEAN, Làng Lô Lô Chải được UN Tourism vinh danh là “Làng du lịch tốt nhất thế giới”.
Những thành công này cho thấy, khi di sản được bảo tồn đúng cách và khai thác hợp lý, nó không chỉ giữ gìn bản sắc mà còn trực tiếp góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của đồng bào DTTS.
Phát huy tiềm năng sẵn có, Cao Bằng đã lựa chọn hướng phát triển du lịch dựa trên tài nguyên bản địa gắn với bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống. Trong đó, Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Non nước Cao Bằng được chọn làm hạt nhân, là trục kết nối giữa bảo tồn di sản-phát triển du lịch-cải thiện sinh kế cho cộng đồng.
Được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận là Công viên địa chất toàn cầu từ năm 2018, Công viên địa chất Non nước Cao Bằng không chỉ là không gian lưu giữ dấu tích tiến hóa của trái đất hơn 500 triệu năm, mà còn là “bảo tàng sống” của 35 dân tộc cùng chung sống.
Với hơn 2.000 di sản văn hóa phi vật thể đang hiện hữu trong đời sống thường ngày của đồng bào các dân tộc, Cao Bằng đã và đang khai thác hiệu quả kho tàng tri thức, lễ hội, nghề truyền thống để tạo sản phẩm du lịch đặc sắc.
4 tuyến du lịch trải nghiệm được xây dựng đã mở ra không gian phát huy văn hóa bản địa theo từng vùng sinh thái-lịch sử: Từ “Khám phá Phia Oắc-vùng núi của những đổi thay”, “Hành trình về nguồn cội”, “Trải nghiệm văn hóa bản địa ở xứ sở thần tiên” đến “Một thời hoa lửa”. Mỗi tuyến là một lát cắt văn hóa, một câu chuyện phát triển gắn với cộng đồng.
Các làng nghề cũng được “đánh thức” qua du lịch, có thể kể đến mô hình làng giấy bản Dìa Trên và làng hương Phia Thắp. Từ những sản phẩm truyền thống từng chỉ phục vụ nhu cầu tâm linh, người dân thiết kế mẫu mã, bao bì, mở rộng trải nghiệm du lịch, kết nối thị trường.
Giấy bản nay trở thành quạt giấy, sổ tay, sản phẩm lưu niệm; thu nhập của người dân tăng lên nhiều lần so với trước. Nghề truyền thống không còn là “việc lúc nông nhàn”, mà trở thành sinh kế ổn định, gắn với niềm tự hào văn hóa.
Khi di sản văn hóa và cảnh quan thiên nhiên được kết nối một cách chiến lược với du lịch cộng đồng, cộng đồng các DTTS có cơ hội tự chủ về sinh kế, giảm nghèo bền vững và phát triển theo chiều sâu mà không mất đi bản sắc văn hóa.