Lời tòa soạn: Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc (3/5/1946 - 3/5/2026), VietNamNet tổ chức tọa đàm trực tuyến với chủ đề “80 năm công tác dân tộc - Hành trình đại đoàn kết và khát vọng vươn lên”.
Tham gia tọa đàm có: Ông Hoàng Xuân Lương - nguyên Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc; ông Bế Trung Anh - đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội khóa XVI; Ủy viên Thường trực Hội đồng Dân tộc Quốc hội khóa XV; ông Hà Văn Sáng - Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc và Tôn giáo, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.
Hai câu chuyện khác nhau nhưng cùng cho thấy một điểm chung: Khi chính sách trao quyền và khơi dậy nội lực, đồng bào không chỉ thoát nghèo mà còn tự kiến tạo tương lai của mình. Đây là góc nhìn chung được các khách mời đưa ra trong phần tiếp theo cuộc tọa đàm của báo VietNamNet với chủ đề “80 năm công tác dân tộc - Hành trình đại đoàn kết và khát vọng vươn lên”.
Ông Bế Trung Anh - đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội khóa XVI Chính sách đúng, bản làng thay đổi
Thưa ông Hoàng Xuân Lương, từ quan sát và trải nghiệm thực tế, ông có thể chia sẻ một câu chuyện cụ thể về một bản làng, cộng đồng hay con người đã thay đổi khi chính sách đi đúng và trúng?
Ông Hoàng Xuân Lương: Trong quá trình xây dựng chính sách dân tộc và đi cơ sở nhiều năm, tôi đặc biệt ấn tượng với một xã của đồng bào Tây Nguyên, đó là Ia Blang ở Chư Sê (cũ), tỉnh Gia Lai.
Năm 2015, khi tôi tới đây, đồng bào chủ yếu vẫn làm nông nghiệp thuần túy, làm nương rẫy, tỷ lệ nghèo hơn 70%. Đến năm 2025 tôi trở lại, tức sau 10 năm, Ia Blang khác hẳn. Các hộ gia đình phát triển hồ tiêu, cà phê, cao su; có nhà có đến 3 - 4 ha. Đặc biệt, người DTTS ở Ia Blang đã kết nối để trở thành các đại lý tham gia xuất nhập khẩu, có các tổ hợp chế biến, sản xuất sản phẩm. Cuộc sống của đồng bào thay đổi rất ấn tượng. Tôi hỏi anh em ở Ia Blang thì tỷ lệ nghèo chỉ còn dưới 2%, trong khi 10 năm trước là hơn 70%.
Ở Việt Nam có nhiều làng như vậy, như Mường Lống (Kỳ Sơn, Nghệ An) hay các bản làng ở Tây Bắc. Đó là những minh chứng rõ nhất cho sự nhất quán trong chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước suốt 80 năm qua.
Văn hóa là nguồn lực nhưng không thể khai thác tùy tiện
Thưa ông Hà Văn Sáng, văn hóa đang được nhắc đến nhiều như một nguồn lực phát triển, đặc biệt đối với đồng bào DTTS - nơi có đời sống văn hóa phong phú, đa dạng. Làm sao để vừa bảo tồn bản sắc, tôn trọng đời sống tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng, vừa biến văn hóa thành sức mạnh nội sinh, sinh kế, động lực phát triển mà không để văn hóa bị thương mại hóa, méo mó, mất giá trị nguyên bản?
Ông Hà Văn Sáng: Câu hỏi này chạm đến điểm rất khó. Các nghị quyết, chỉ thị, kết luận gần đây đều nhấn mạnh việc biến văn hóa thành nguồn lực. Nhưng nói như vậy còn làm rất khó.
Việc này phải xác định thành chiến lược. Các bộ, ngành liên quan, đặc biệt là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cùng các địa phương phải bàn rất kỹ, làm từng bước.
Theo tôi, trước hết phải xác định bảo tồn là nền. Khai thác trên nền đó là câu chuyện khác. Nếu coi văn hóa là tài nguyên để cứ đào lên bán thì chẳng mấy chốc sẽ không còn văn hóa. Văn hóa là hồn cốt của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất.
Bản sắc văn hóa đa sắc màu của các dân tộc tạo nên bức tranh rất sinh động của Việt Nam. Phải xác định giá trị cốt lõi là ngôn ngữ, nghi lễ thiêng, tri thức của người đồng bào tại chỗ. Còn giá trị lan tỏa như ẩm thực, trang phục, lễ hội thì có thể lan tỏa.
Nhưng phải chọn cái gì, phát triển thành sản phẩm ra sao, phải có chuẩn mực. Nếu khai thác tính thiêng mà không hiểu tính thiêng, đưa ra quảng bá cũng không ai hiểu. Nếu đưa lễ vật, lễ hội ra tổ chức mà không giải mã, không cụ thể hóa, thì lễ hội ở đâu cũng giống nhau, người ta không hiểu được bản sắc.
Video: Văn hóa dân tộc - Nguồn lực phát triển nhưng không thể thương mại tùy tiện
Thứ hai, phải trao vai trò chủ thể cho chính đồng bào. Ví dụ Lễ hội Lồng tồng, trước đây cấp huyện, phòng văn hóa huyện chủ trì tổ chức, chứ không phải người dân. Nếu lễ hội ở bản nào do trưởng bản, trưởng thôn tổ chức thì họ sẽ biết chọn cái gì đưa ra ngoài, giữ cái gì để bảo tồn, tham gia trực tiếp vào quá trình đó, từ đó mới khai thác du lịch, gạn đục khơi trong.
Thứ ba, phát triển sinh kế từ văn hóa phải gắn với chuỗi giá trị bền vững. Tổ chức lễ hội phải gắn với sản phẩm OCOP, sản phẩm du lịch cộng đồng, nâng cao chất lượng sản phẩm. Cùng là lễ hội mận, nhưng mận ở Sơn La hay Bắc Hà phải có câu chuyện riêng, nguồn gốc riêng. Khi người ta ăn quả mận mà nghĩ đến câu chuyện đó, sản phẩm mới có tính riêng biệt, có thương hiệu, từ đó văn hóa mới trở thành nguồn lực.
Ngoài ra, còn phải kết nối chuỗi. Nếu không kết nối chuỗi sẽ không tạo được sự liên thông giữa nội dung này với nội dung khác, vùng này với vùng khác, sản phẩm này với sản phẩm khác. Du khách không chỉ đến một điểm rồi đi qua, mà phải có chuỗi trải nghiệm, có giá trị tinh thần, văn hóa và tạo ra nguồn lực cho địa phương.
Thứ tư, phải thiết lập ranh giới để chống thương mại hóa. Nếu không, sân khấu hóa sẽ dẫn tới tùy tiện, nhất là tùy tiện trong nghi lễ thiêng; biến tấu làm sai lệch ý nghĩa; để bên ngoài áp đặt khai thác trong khi người trong cuộc không được hưởng lợi.
Thứ năm, phải đầu tư cho con người. Muốn phát triển phải đầu tư cho con người thì phải am hiểu sâu sắc văn hóa từng vùng, từng đồng bào, tính thiêng trong từng nghi lễ. Có như vậy mới khai thác văn hóa thành nguồn lực đúng nghĩa, vừa bảo tồn cốt lõi, vừa phát triển các nội dung đi kèm như nghề thủ công, trang phục, sản phẩm du lịch…
Đồng bào phải là chủ thể, tự biết gạn đục khơi trong, bỏ hủ tục, giữ cái gì, tiếp nhận cái mới như thế nào. Hồn cốt cuối cùng vẫn phải còn, tính thiêng vẫn phải còn.
Ông Bế Trung Anh: Những điều anh Sáng nói rất chính xác trong thực tiễn. Nếu không hiểu, chúng ta sẽ làm văn hóa của đồng bào mai một đi.
Tôi từng đến xóm Sưng của người Dao ở Đà Bắc, Hòa Bình cũ. Xóm này được một tổ chức phi chính phủ của Australia hỗ trợ. Họ không làm Homestay đơn lẻ, mà làm Villagestay, tức cả bản làm du lịch sinh thái. Họ rà soát toàn bộ xóm, quy hoạch chỗ nào làm đường rải đá, chỗ nào cần biển chỉ dẫn, rồi xây dựng dự án.
Các khách mời tham dự Tọa đàm Điều quan trọng là cả cộng đồng tham gia. Nếu chỉ một nhà làm Homestay, nhà khác không làm thì không gian chung vẫn hỏng. Vì vậy, họ phân công nhà này dệt vải, nhà kia nấu ăn, nhà khác cho khách ngủ, nhà khác dẫn khách leo núi, có nhà chuyên múa hát. Cộng đồng lập ban quản lý, chia lợi tức cho các hộ tham gia và được tập huấn cách tổ chức hoạt động.
Sau khi làm xong, địa danh này được đưa lên bản đồ du lịch, đưa lên Internet và có khách quốc tế đến. Cả bản háo hức vì có cuộc sống mới. Tôi thấy đây là mô hình tự quản rất văn minh, cần một cách nhìn tổng thể về bản sắc của cộng đồng.
Từ đó, tôi nghĩ phải định nghĩa lại thuật ngữ “bảo tồn”. Trước đây, ta nghĩ bảo tồn là giữ cái cũ đứng im. Nhưng nếu bảo tồn bản sắc văn hóa mà không biến văn hóa thành nguồn lực phát triển, không gắn với đời sống của đồng bào thì chỉ còn hình thức, còn linh hồn đã chết.
Ông Hà Văn Sáng: Bảo tồn là nền, nhưng khai thác trên nền bảo tồn phải do chính đồng bào làm chủ. Họ mới biết khơi dậy cái gì, giữ cái gì, tự làm điều gì tốt hơn cho cộng đồng.
Ở đây, Người có uy tín, già làng, trưởng bản cực kỳ quan trọng. Hiện nay ở Tây Bắc, đạo Tin lành phát triển khá mạnh. Có làng bản 100% đồng bào theo Tin lành, trưởng điểm nhóm đồng thời là trưởng thôn, là cánh tay nối dài của hệ thống chính trị, nếu phát huy tốt thì mọi việc rất thuận lợi.
Ngoài Người uy tín, già làng, trưởng bản, hiện nay còn có nhà giáo, chiến sĩ Biên phòng, nghệ nhân dân gian, thậm chí các Facebooker, những người có ảnh hưởng đến giới trẻ. Thanh niên DTTS đi làm ở vùng xuôi, khu công nghiệp, tiếp cận nhiều nền văn hóa và công nghệ, khi quay trở lại nếu biết phát huy, họ cũng có thể trở thành lực lượng gìn giữ, bảo tồn và phát huy văn hóa rất tốt.
(Còn tiếp)