Các vùng đồng bào DTTS ở Tây Nguyên ngày càng khởi sắcNiềm tự hào và sức mạnh nội sinh
Dù chiếm tỷ lệ dân số không lớn, đồng bào các DTTS luôn có vị trí đặc biệt trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Nhiều tộc người như Tày, Nùng, Mông, Dao, Thái, Mường… đã gắn bó với cuộc kháng chiến chống thực dân, bảo vệ biên cương phía Bắc. Ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, các cộng đồng dân tộc Tà Ôi, Bru Vân Kiều, Ê Đê, Ba Na, Cơ Ho, Mạ, Xtiêng… cùng toàn dân tộc đứng lên trong những năm tháng gian nan. Đồng bào Chăm, Khmer… cũng có những đóng góp quan trọng trong thời kỳ đất nước bị chia cắt.
Đặc điểm cư trú ở vùng biên, vùng chiến lược khiến nhiều cộng đồng DTTS thường xuyên đối diện khó khăn, thiệt thòi. Sau ngày thống nhất, Nhà nước đã dành nhiều chương trình, chính sách, nguồn lực đầu tư cho vùng đồng bào DTTS và miền núi; đồng thời chú trọng bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Nhờ đó, diện mạo nhiều vùng đã thay đổi tích cực; đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cũng cho thấy một số chính sách còn thiếu cơ sở khảo sát đầy đủ hoặc chưa phù hợp đặc thù văn hóa - sinh kế của từng tộc người. Điều này khiến hiệu quả chưa bền vững ở một số nơi, như việc hỗ trợ vật nuôi, cây trồng không phù hợp tập quán canh tác; trang thiết bị văn hóa khó sử dụng; hoặc một số dự án chưa được duy trì tương xứng với đầu tư ban đầu. Những ví dụ ấy đặt ra yêu cầu tiếp tục điều chỉnh chính sách theo hướng sát thực tế hơn, dựa trên thông tin nghiên cứu kỹ lưỡng và sự tham gia của chính cộng đồng.
Câu chuyện “trao cần câu hay trao con cá” vẫn được nhắc tới vì yếu tố bền vững của hỗ trợ chưa đồng đều giữa các vùng. Quan trọng hơn, bên cạnh vai trò của Nhà nước và toàn xã hội, chính đồng bào cũng là chủ thể quyết định trong việc phát huy nội lực, vượt qua tâm lý tự ti và cùng đóng góp vào mục tiêu phát triển chung.
Nâng cao trách nhiệm của chủ thể văn hóa
Mỗi tộc người là chủ thể của di sản văn hóa riêng và họ hiểu rõ nhất giá trị mà tổ tiên để lại. Bản sắc ấy là niềm tự hào, là cách mỗi cộng đồng khẳng định sự tồn tại và sáng tạo của mình. Tuy vậy, thực tế ở một số nơi cho thấy việc gìn giữ văn hóa truyền thống chưa được quan tâm đúng mức. Một bộ phận thanh niên còn cảm thấy e ngại hoặc xa rời văn hóa đặc trưng của dân tộc mình.
Trong nhiều cuộc trao đổi với Người có uy tín như thầy giáo Ya Loan, Nghệ nhân Ưu tú Ma Bio, dân tộc Chu Ru, già làng K’Diệp, già làng Krazan Plin, ông Păng Ting Uốk, dân tộc Cơ Ho, Cựu chiến binh Điểu Thị Lôi hay già làng Điểu K’Lộc, dân tộc Xtiêng, ông Thào Hoàng Khải, dân tộc Mông… điều dễ nhận thấy là sự trăn trở chung trước nguy cơ mai một văn hóa dân tộc. Họ cho rằng khi chính cộng đồng xa rời cồng chiêng, sử thi, lời hát, điệu múa hay trang phục truyền thống thì khó có lực lượng nào “giữ thay” trọn vẹn.
Thế hệ trẻ dân tộc Cơ Ho biểu diễn cồng chiêng. Ảnh Hà Hữu NếtỞ một vài địa phương như Lâm Đồng, Đà Nẵng, Đồng Nai, Quảng Ngãi…, bên cạnh việc sao nhãng giá trị truyền thống, một số gia đình lại chạy theo thói quen phô trương, khiến đời sống thêm áp lực. Nghệ sĩ Ưu tú Krajăn Dick, dân tộc Cơ Ho từng thẳng thắn chia sẻ rằng, niềm tự hào và ý thức tự tôn văn hóa dân tộc cần bắt đầu từ chính từng tộc người, và ngay giữa cộng đồng các DTTS cũng đôi khi tồn tại khoảng cách hoặc sự hiểu lầm lẫn nhau.
Điều đó cho thấy, việc củng cố lòng tự hào dân tộc và khơi dậy năng lực nội sinh là nhân tố quan trọng trong công tác bảo tồn văn hóa. Đồng bào DTTS chính là chủ nhân của Di sản cồng chiêng Tây Nguyên, của hát Then cùng nhiều tri thức bản địa quý giá. Vì vậy, việc bồi đắp niềm tự hào ấy, nhất là cho thế hệ trẻ, sẽ giúp cộng đồng đủ sức ứng phó với những thay đổi văn hóa - xã hội hiện nay.
Một số vấn đề đặt ra
Vấn đề nghiên cứu và nguồn nhân lực văn hóa, dân tộc tại địa phương cũng cần được quan tâm đầy đủ hơn. Nhiều đề tài nghiên cứu văn hóa tộc người hiện mới dừng ở mức mô tả khái quát, thiếu đi chiều sâu hoặc chưa có điều kiện ứng dụng sau nghiệm thu. Nghiên cứu liên ngành, gắn với sinh kế, không gian văn hóa và đặc điểm từng dân tộc còn ít.
Nguồn nhân lực làm công tác dân tộc, văn hóa tại cơ sở cũng đang gặp khó khăn. Ở một số tỉnh, cán bộ lãnh đạo ngành Dân tộc chủ yếu là người Kinh; đội ngũ cán bộ DTTS còn thiếu ở cơ quan hành chính Nhà nước, dù lực lượng có trình độ ở các đơn vị sự nghiệp khá đông. Một bộ phận thanh niên DTTS tốt nghiệp cao đẳng, đại học về địa phương nhưng chưa có vị trí phù hợp để phát huy năng lực, tạo ra sự mất cân đối nhất định.
Phát huy vai trò chủ thể của đồng bào DTTS không chỉ là yêu cầu trong công tác dân tộc mà còn là “chìa khóa” để bảo tồn văn hóa, phát triển bền vững và gìn giữ sức mạnh nội sinh của mỗi tộc người. Khi chính cộng đồng được tham gia, được trao quyền và được tin tưởng, các chính sách sẽ có thêm động lực để đi vào cuộc sống, góp phần xây dựng vùng miền núi, vùng đồng bào DTTS ngày càng khởi sắc.